Chuỗi giá trị toàn cầu sẽ phát triển như thế nào trong nền kinh tế hậu COVID-19

(CLO) Thế giới đang bước vào giai đoạn đột phá về công nghệ trên nhiều lĩnh vực. Sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo vào hoạt động sản xuất, làm thay đổi trao đổi thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu.
Chuỗi giá trị toàn cầu đang dịch chuyển và sẽ thay đổi hậu đại dịch Covid-19 - Ảnh: ioworld

Chuỗi giá trị toàn cầu đang dịch chuyển và sẽ thay đổi hậu đại dịch Covid-19 - Ảnh: ioworld

Theo lý thuyết thương mại truyền thống, hướng và độ lớn của dòng chảy sản phẩm chủ yếu được xác định bởi lợi thế so sánh của các quốc gia thương mại. Những lợi thế so sánh này phụ thuộc vào sự ưu đãi của các yếu tố sản xuất: lao động, vốn (bao gồm cả vốn nhân lực) và đất đai (hoặc tài nguyên thiên nhiên).

Lực lượng tích hợp các yếu tố ưu đãi khác nhau của các quốc gia khác nhau - đặc biệt là vốn và công nghệ từ các nền kinh tế tiên tiến và lao động giá rẻ từ các nước đang phát triển - thúc đẩy sự phát triển của chuỗi giá trị toàn cầu (GVC).

Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain) là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hoá trong đó nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế chế tạo tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng.

COVID-19 có thể sẽ thúc đẩy quá trình tiến tới 'chuỗi giá trị ngang hàng' giữa các quốc gia có các thỏa thuận thể chế tương tự. Ngoài các yếu tố sản xuất truyền thống, chất lượng của các thể chế trong nước có thể trở thành một yếu tố quan trọng, quyết định đến lợi thế so sánh của một quốc gia.

Nathan Nunn, nhà kinh tế học người Canada, khái niệm các sản phẩm ‘thu hút hợp đồng', có chuỗi cung ứng phức tạp bao gồm nhiều giao dịch ở các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất.

Giống như một quốc gia có nguồn lao động dồi dào có lợi thế so sánh trong việc sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, chất lượng của hệ thống pháp luật có thể xác định khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia trong các sản phẩm ‘thu hút hợp đồng’.

Thực tế, Nunn đã chứng minh một cách thực nghiệm rằng các quốc gia có thể chế pháp lý ưu việt có lợi thế hơn trong việc sản xuất các sản phẩm đòi hỏi các giao dịch phức tạp và có nhiều khả năng xuất khẩu các sản phẩm đó hơn.

Một quốc gia có khung pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ có lợi thế hơn trong các ngành công nghiệp tri thức. Tương tự như vậy, các thể chế trong nước hỗ trợ các hoạt động kinh tế công bằng và minh bạch có thể là nguồn bổ sung cho khả năng cạnh tranh. Chúng bao gồm các quy tắc cạnh tranh, cấp phép và các nguyên tắc mua sắm chính phủ rõ ràng.

Quan trọng không kém là khía cạnh thể chế của việc phát triển và sử dụng công nghệ trong nước. Quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ kỹ thuật số, bản địa hóa dữ liệu và luồng dữ liệu xuyên biên giới và thương mại đang là những vấn đề mới nổi đối với chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, một số yếu tố ít mới lạ hơn vẫn có liên quan. Ví dụ: điều quan trọng đối với một quốc gia để gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) chuyên sâu về công nghệ là mức độ mà các tiêu chuẩn công nghệ của quốc gia đó tương thích và hài hòa với hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.

Ngay cả những khía cạnh thể chế cơ bản như vậy cũng góp phần quan trọng vào khả năng cạnh tranh của một quốc gia, bên cạnh mức độ cơ sở hạ tầng vật chất - hoặc yếu tố vốn - và sự sẵn có của các kỹ năng hoạt động tương ứng - yếu tố vốn con người.

Các công ty đa quốc gia cũng ngày càng cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như bảo vệ môi trường và thương mại công bằng. Một số công ty chú ý nghiêm ngặt đến các hoạch định chính sách liên quan của các quốc gia tìm nguồn cung ứng trong việc tổ chức chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Sự hiện diện của các tiêu chuẩn thích hợp về môi trường và lao động nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia với tư cách là nhà cung cấp toàn cầu.

Ngày càng nhiều quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một công nhân Việt Nam trong dây chuyền sản xuất xe máy tại miền Bắc - Ảnh: Reuters

Ngày càng nhiều quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một công nhân Việt Nam trong dây chuyền sản xuất xe máy tại miền Bắc - Ảnh: Reuters

Vậy tại sao các tổ chức sẽ quan trọng hơn đối với chuỗi giá trị toàn cầu (GVC)?

Thứ nhất, tầm quan trọng của lao động trong việc xác định lợi thế so sánh của một quốc gia đang giảm sút. Sự chênh lệch tiền lương giữa các quốc gia từng là động lực chính của GVC. Nhưng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ mới, lao động phổ thông ở các nước đang phát triển - vốn đang ngày càng được thay thế bằng máy móc - đang nhanh chóng mất đi giá trị kinh tế.

Điều này xảy ra là kết quả của việc lắp đặt rộng rãi các quy trình sản xuất tự động kỹ thuật số ở các nền kinh tế tiên tiến, được hỗ trợ bởi robot tự động, cảm biến thông minh và trí tuệ nhân tạo.

Thứ hai, có một sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh tế trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng, đặc biệt là do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và xung đột an ninh. Các doanh nghiệp đang trở nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều hình thức can thiệp của nhà nước, như đóng băng tài sản và buộc phải chuyển giao công nghệ.

Chuỗi giá trị toàn cầu là một cách tiếp cận mới, toàn diện hơn về phân công lao động quốc tế, nghĩa là bất kì doanh nghiệp nào có tham gia vào quá trình sản xuất một sản phẩm xuất khẩu đều có thể coi là đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Các tổ chức mạnh mẽ có thể cung cấp khả năng dự đoán cho các hoạt động quốc tế của các công ty và đóng vai trò như những người bảo vệ khách quan trước những can thiệp tùy ý của chính quyền địa phương vào các hoạt động kinh doanh.

Trong việc mở rộng chuỗi cung ứng, các công ty nhạy cảm với rủi ro sẽ tìm kiếm các quốc gia có thể chế chất lượng cao, hoặc ít nhất là các thuộc tính thể chế tương tự như ở nước họ.

Việc xây dựng quy tắc chung về các hình thức thể chế trong nước tốt nhất đã là một chương trình nghị sự quan trọng của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ chức Lao động Quốc tế.

Nhưng không phải mọi quốc gia đều là thành viên của các cơ quan này và ảnh hưởng của các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực xây dựng quy tắc thể chế trong nước đã nhanh chóng mờ nhạt, ảnh hưởng đến quản trị toàn cầu trên cơ sở đa phương.

Nhưng ngay cả khi không có khuôn khổ đa phương, các nước vẫn có thể thấy có lợi khi nỗ lực cải cách thể chế trên cơ sở đơn phương, cải cách và cải thiện các thể chế trong nước để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Điều này đã được chứng kiến ​​với việc cắt giảm thuế quan đơn phương đối với thương mại hàng hóa ở nhiều nước Đông Á, vượt xa mức thuế suất ràng buộc trong WTO của họ.

GVC sẽ phát triển với sự tiến bộ nhanh chóng của các phương thức vận tải và công nghệ truyền thông thông tin, cũng như mối quan tâm ngày càng tăng với việc đa dạng hóa năng lực sản xuất sau đại dịch COVID-19.

Có khả năng là các GVC sẽ tiếp tục mở rộng về mặt địa lý. Nhưng việc tổ chức lại chuỗi giá trị không còn bị thúc đẩy bởi lực lượng chênh lệch tiền lương giữa các nước phát triển và đang phát triển, vì tiền lương ít quan trọng hơn trong thời đại của người máy và trí tuệ nhân tạo. Thay vào đó, GVC sẽ thúc đẩy ‘chuỗi giá trị ngang hàng’ giữa các quốc gia có các thuộc tính thể chế tương tự.

Tiếp cận phân công lao động quốc tế theo chuỗi giá trị toàn cầu sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về vị trí của mình trên thị trường thế giới, để có thể chủ động lựa chọn công đoạn tham gia phù hợp nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn. 

Một chuỗi giá trị toàn cầu được phân chia giữa nhiều doanh nghiệp và không gian địa lí khác nhau. Chẳng hạn, một chiếc máy tính sử dụng lao động và vật liệu từ nhiều nhà cung cấp ở nhiều nước khác nhau, được lắp ráp ở một nước khác, được thiết kế và cuối cùng được bán ở nhiều nơi khác nữa. 

Chuỗi giá trị toàn cầu là chuỗi giá trị đặc biệt mà lợi ích được phân chia giữa nhiều doanh nghiệp và trải rộng qua một số khu vực, quốc gia.

Xem thêm

Trung Đông sau cơn sóng dữ

Trung Đông sau cơn sóng dữ

(CLO) Sau giai đoạn căng thẳng cao liên quan đến Iran, tình hình Trung Đông tạm thời hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường.
Iran, nơi chiến tranh bước vào “kỷ nguyên thuật toán”

Iran, nơi chiến tranh bước vào “kỷ nguyên thuật toán”

(NB&CL) Cuộc khủng hoảng Iran đánh dấu một bước ngoặt, khi trí tuệ nhân tạo (AI) dần trở thành một công cụ cốt lõi trong chiến tranh hiện đại. Từ việc xác định mục tiêu cho tới hỗ trợ các chiến dịch ám sát, AI đang rút ngắn thời gian ra quyết định - nhưng đồng thời cũng làm dày thêm câu hỏi về trách nhiệm, đạo đức và luật pháp quốc tế.
Mối nguy Houthi phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb liệu có thể xảy ra?

Mối nguy Houthi phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb liệu có thể xảy ra?

(CLO) Những đợt tập kích tên lửa mới đây từ Yemen hướng về phía Israel làm dấy lên nỗi lo sợ về một kịch bản cực đoan hơn, đó là lực lượng Houthi có thể phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb. Nhưng việc bóp chặt “yết hầu” vận tải toàn cầu, trong bối cảnh Hormuz đang tắc nghẽn, có phải ý tưởng sáng suốt với Houthi?
Đàm phán Mỹ - Iran trong bóng mờ kịch bản quân sự

Đàm phán Mỹ - Iran trong bóng mờ kịch bản quân sự

(CLO) Những tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về triển vọng đàm phán với Iran đang tạo ra mâu thuẫn: trong khi ngôn từ ngoại giao được nhấn mạnh, các dấu hiệu chuẩn bị quân sự lại gia tăng.
Khủng hoảng năng lượng toàn cầu: “Thời điểm thức tỉnh” cho chuyển đổi xanh

Khủng hoảng năng lượng toàn cầu: “Thời điểm thức tỉnh” cho chuyển đổi xanh

(NB&CL) Khi các chỉ số khí hậu toàn cầu đồng loạt “nhấp nháy đỏ”, cú sốc năng lượng tại eo biển Hormuz lại bồi thêm một đòn mạnh vào nền kinh tế thế giới. Nhưng từ đó, một câu hỏi sống còn lại hiện ra: Liệu nhân loại sẽ tiếp tục vay mượn tương lai bằng nhiên liệu hóa thạch, hay sẽ dùng chính cuộc khủng hoảng này làm bệ phóng cho chuyển đổi xanh?
Mỹ đang lùi bước trước 'lằn ranh' năng lượng?

Mỹ đang lùi bước trước 'lằn ranh' năng lượng?

(CLO) Những diễn biến liên tiếp xung quanh tối hậu thư của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với Iran trong vài ngày qua cho thấy một thực tế quen thuộc nhưng đáng chú ý trong chính sách đối ngoại của Washington hiện nay: sự dao động giữa răn đe cứng rắn và điều chỉnh chiến thuật nhằm tránh vượt qua “lằn ranh đỏ” của một cuộc leo thang ngoài tầm kiểm soát.
Cuộc khủng hoảng năng lượng liệu sẽ còn kéo dài?

Cuộc khủng hoảng năng lượng liệu sẽ còn kéo dài?

(CLO) Cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông, với tâm điểm là khu vực Vịnh Ba Tư, đang tạo ra những cú sốc sâu rộng đối với thị trường năng lượng toàn cầu. Liệu cuộc khủng hoảng này sẽ còn kéo dài?
Hormuz, phép thử cho chiến tranh bất đối xứng trên biển

Hormuz, phép thử cho chiến tranh bất đối xứng trên biển

(CLO) Bất chấp sức mạnh quân sự của Mỹ, với hai tàu sân bay đang triển khai, Iran vẫn đủ sức chặn đường hàng hải qua eo biển Hormuz bằng máy bay không người lái và thủy lôi. Eo biển này vì thế có thể xem như thước đo mới nhất về hiệu quả của chiến lược tiếp cận bất đối xứng trong xung đột trên biển.
Mỹ mở rộng mặt trận thương mại toàn cầu

Mỹ mở rộng mặt trận thương mại toàn cầu

(CLO) Các động thái thương mại gần đây của Mỹ cho thấy một xu hướng đáng chú ý: mở rộng phạm vi đối đầu từ cạnh tranh song phương sang tiếp cận đa phương mang tính áp đặt.
Ngày Nước thế giới 2026: Khi hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch…

Ngày Nước thế giới 2026: Khi hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch…

(NB&CL) Cho đến tận bây giờ, khi tưởng chừng thế giới đã có những bước tiến rất nhanh, thậm chí thần kỳ về nhiều mặt thì nhức nhối thay, vẫn tồn tại những thực tế rất cũ, một nghịch lý vẫn chưa có giải pháp hiệu quả, trong đó có câu chuyện thiếu thốn nước sạch. Không chỉ là con số hơn 2 tỷ người đang không có nước sạch để sử dụng.
Trung Đông sau vòng giao tranh đầu tiên: Thế cân bằng mong manh

Trung Đông sau vòng giao tranh đầu tiên: Thế cân bằng mong manh

(CLO) Chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran có thể nói đã bước qua vòng giao tranh đầu tiên. Đòn đánh "phủ đầu" của liên quân Mỹ - Israel dù rất mạnh, nhưng lại không hạ gục được Iran, khiến cuộc chiến đang phải bước sang giai đoạn hai phức tạp và khó lường hơn tới dây.
Cỡ chữ bài viết: