Hormuz vẫn “trong lòng bàn tay” Iran
Tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã kêu gọi các đồng minh của mình nỗ lực hỗ trợ quân sự hoặc trực tiếp tham gia cùng Mỹ giải tỏa eo biển Hormuz. Nhưng cho đến nay, ông vẫn chưa thành công, vì hầu hết đều cảm thấy nhiệm vụ này dường như quá rủi ro.
Hormuz vì thế vẫn tắc nghẽn. Và khi chiến dịch “Cơn thịnh nộ sử thi” do Mỹ và Israel phát động chống lại Iran vào ngày 28/2 bước sang tuần thứ ba, điểm nghẽn quan trọng này đối với nền kinh tế toàn cầu đang trở thành “sân khấu” cho một trận hải chiến bất đối xứng mà kết quả vô cùng khó đoán.
“Ban đầu, nhiều ý kiến tin rằng cuộc khủng hoảng này sẽ được kiềm chế, chỉ kéo dài vài ngày mà không gây ra bất kỳ sự leo thang nào trên biển”, Sylvain Domergue, giáo sư tại Đại học Khoa học Po Bordeaux (Pháp) và tác giả của cuốn sách “Địa chính trị của các không gian hàng hải”, cho biết.
“Nhưng sau cái chết của Đại Giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei, người Iran không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đáp trả bằng phương án tối đa. Vì không sở hữu vũ khí hạt nhân, việc phong tỏa eo biển Hormuz trở thành vũ khí cuối cùng của họ”, Giáo sư Domergue giải thích thêm.
Eo biển Hormuz là một vùng nước hẹp nằm giữa Iran và Oman, nối liền Vịnh Ba Tư với Vịnh Oman. Dù là vùng biển chung giữa Iran và Oman, nhưng trên thực tế Iran nắm giữ quyền kiểm soát lớn hơn đối với Hormuz.
Eo biển này là tuyến đường huyết mạch cho việc vận chuyển dầu mỏ, khí đốt và các mặt hàng xuất khẩu khác (đặc biệt là phân bón) từ Vịnh Ba Tư đến phần còn lại của thế giới. Tại điểm hẹp nhất, eo biển rộng 55 km trong đó luồng hoạt động cho hàng hải chỉ vỏn vẹn khoảng 39 km.
Iran hiện có rất nhiều vũ khí để phong tỏa Hormuz. Họ được cho là sở hữu khoảng 6.000 thủy lôi, từ các loại đơn giản như Maham-1 (được neo cố định và kích hoạt khi va chạm) đến các hệ thống tiên tiến hơn như EM-52 ,được đặt dưới đáy biển và phóng tên lửa vào những tàu thuyền có tín hiệu âm thanh hoặc từ trường đặc trưng.
Cho đến nay, người ta chỉ biết rằng Iran mới triển khai một số ít thủy lôi, thường là bí mật vào ban đêm hoặc sử dụng các tàu thuyền buồm truyền thống để tránh bị phát hiện.
Song những nỗ lực rải thủy lôi hạn chế này cũng đủ làm gián đoạn hoạt động vận tải thương mại, vì thủy thủ đoàn, công ty bảo hiểm và các nhà khai thác đều không dám mạo hiểm đi qua Hormuz.
Những con số sẽ minh họa rõ điều này. Công ty dữ liệu hàng hải Lloyd's List Intelligence thứ Tư (18/3) cho biết chỉ có khoảng 89 tàu đi qua eo biển Hormuz từ ngày 1/3 đến ngày 15/3 - bao gồm 16 tàu chở dầu - giảm so với khoảng 100 đến 135 lượt tàu đi qua mỗi ngày trước chiến sự.
Phần thắng có thuộc về kẻ mạnh?
Về lý thuyết, việc mở lại eo biển khá đơn giản: rà phá thủy lôi, hộ tống tàu thuyền và ngăn chặn các cuộc tấn công tiếp theo. Và hải quân Iran cũng đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công quy mô lớn từ phía Mỹ. Ước tính, hơn 60 tàu của Iran đã bị đánh chìm, bao gồm 4 tàu hộ vệ tên lửa lớp Soleimani thuộc nhóm hiện đại nhất trong hạm đội Iran.
Nhưng thực tế không đơn giản như thế. Bởi theo các nhà phân tích, thay vì lực lượng hải quân chính quy, chính năng lực hải quân dưới sự chỉ huy của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) mới được xem là mối đe dọa thực sự ở eo biển Hormuz.
IRGC có một nhánh chuyên trách kiểm soát giao thông hàng hải, chuyên sử dụng các tàu cao tốc nhỏ và tàu tuần tra kết hợp với các cuộc tấn công từ máy bay không người lái (UAV/drone) hoặc tên lửa hành trình giá rẻ.
Theo tờ Le Monde, IRGC đã xây dựng một hệ thống “chống tiếp cận và ngăn chặn khu vực”, hay (A2/AD), toàn diện: tàu tấn công nhanh, tên lửa chống hạm đặt trên bờ - như Noor/C802 - và drone cảm tử, chẳng hạn như Shahed-136 với tầm bắn từ 1.500-1.900 km.
Chúng có thể được phóng từ các vị trí ẩn nấp dọc theo bờ biển và từ sâu trong đất liền, cho phép Tehran khống chế hiệu quả các tàu thuyền đi qua eo biển. Iran cũng có khoảng 20 tàu ngầm, trong đó có những chiếc Kilo vốn được mệnh danh là “hố đen đại dương” nhờ khả năng hoạt động cực kỳ êm ái.
Ngoài ra, còn phải kể đến một năng lực tiên tiến khác trong lĩnh vực hải quân của IRGC mà cho đến nay ít được chú ý: Hạm đội phương tiện không người lái dưới nước hay USV. “Tầm hoạt động của chúng dao động từ 40 đến 100 km, nhưng chúng hiệu quả nhất ở khoảng cách từ 20 đến 60 km”, Louis Borer, nhà phân tích về mối đe dọa hàng hải tại công ty tư vấn Risk Intelligence (Đan Mạch), cho biết.
Cự ly này đủ để ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào vượt qua eo biển rộng 55 km. Kết quả là một con tàu cố gắng di chuyển qua Hormuz phải đồng thời đối phó với các mối đe dọa từ dưới nước, trên mặt nước và từ trên không.
“Trong lĩnh vực hải quân, IRGC thành thạo cách sử dụng các phương tiện bất đối xứng để làm gián đoạn giao thông hàng hải, và họ làm điều đó rất tốt”, nhà phân tích Louis Borer giải thích.
Theo ông Borer, vùng biển Hormuz gồm nhiều vách đá và vô số hang động, nơi có thể cất giấu những chiếc USV, drone, hải pháo hoặc tên lửa ngay sát mép nước. Điều này khiến những con tàu bị nhắm mục tiêu chỉ có một khoảng thời gian ngắn để đối phó.
Những vũ khí nhỏ lại có hiệu quả lớn
Khả năng A2/AD toàn diện của IRGC là lý do giải thích tại sao hai tàu sân bay Mỹ được triển khai trong khu vực - Gerald R. Ford và Abraham Lincoln - cùng toàn bộ đội hộ tống của chúng, vẫn neo đậu cách bờ biển Iran khoảng 800 km, trên Biển Ả Rập. “Một chiếc ở đó để tấn công đối phương, còn chiếc kia để bảo vệ nó”, Giáo sư Sylvain Domergue của Đại học Khoa học Po Bordeaux giải thích.
Tuy nhiên, vào ngày 12/3, một vụ hỏa hoạn không rõ nguyên nhân đã xảy ra trên tàu Gerald R. Ford, buộc chiếc tàu sân bay lớn nhất trong hạm đội Mỹ phải hướng đến Crete để dừng chân. Điều này càng giảm đáng kể khả năng uy hiếp của Mỹ đối với hải quân IRGC.
Trong nỗ lực đối phó với mối đe dọa từ Iran trên biển, đầu tháng 3, Mỹ tuyên bố lần đầu tiên sử dụng drone cảm tử giá rẻ (có tên gọi "Lucas"), với thiết kế rất giống với chiếc Shahed-136 của Iran. Những thiết bị này có thể được phóng từ boong tàu và được vận hành bởi một đơn vị của Hải quân Mỹ đóng tại Bahrain, được gọi là Lực lượng Đặc nhiệm 59.
Nhưng những chiếc Lucas sẽ không thể phát huy hiệu quả nếu đối phương sử dụng thủy lôi. Theo một phân tích gần đây của báo The Conversation, hải quân Mỹ và các đồng minh phương Tây đều không được chuẩn bị tốt cho mặt trận này.
Chiến tranh thủy lôi đã bị xem nhẹ trong nhiều thập kỷ. Mỹ từ trước đến nay chỉ dành chưa đến 1% ngân sách hải quân cho hoạt động này, mặc dù thủy lôi chiếm đến 80% số tàu chiến của Mỹ bị đánh chìm hoặc hư hại kể từ năm 1945.
“Hải quân luôn phụ thuộc vào các quốc gia đồng minh - đặc biệt là Hà Lan, Na Uy và Thụy Điển - về khả năng tác chiến thủy lôi (...) nhưng Hải quân Mỹ đã nhiều lần không áp dụng được những bài học kinh nghiệm trong quá khứ", một bài bình luận gay gắt từng đăng tải hồi tháng 6 /2025 vừa được Viện Hải quân Mỹ (USNI) đăng lại vào ngày 18/3, nhấn mạnh.
“Những gì đang xảy ra hiện nay cho thấy họ (Hải quân Mỹ) đã không chuẩn bị trước hàng chục tàu chiến, lực lượng không quân giám sát, radar và một liên minh cho nhiệm vụ tác chiến này”, Giáo sư Domergue - người đã tiếp cận bài báo của USNI - phân tích.
Tuy nhiên, theo tờ Le Monde, ngay cả khi hải quân phương Tây muốn hỗ trợ Mỹ, họ cũng không có đủ nguồn lực cho tác chiến thủy lôi quy mô lớn tại Hormuz.
Các tàu quét mìn cuối cùng của Hải quân Anh tại Vịnh Ba Tư, HMS Middleton, đã rời cảng để bảo trì ngay trước cuộc khủng hoảng hiện nay. Trong số 7 tàu quét mìn của hạm đội, 4 chiếc không hoạt động được, 3 chiếc còn lại được dành để bảo vệ vùng biển nội địa và tàu ngầm của Anh.
Ngay cả khi có các tàu rà phá thủy lôi, chúng cũng không phù hợp với eo biển Hormuz. Chúng hoạt động chậm và ở gần mối đe dọa, sử dụng sonar và các phương tiện điều khiển từ xa để xác định vị trí và vô hiệu hóa thủy lôi.
Trong môi trường tranh chấp, kiểu hoạt động này khiến chúng nằm trong tầm bắn của tên lửa và máy bay không người lái của Iran nên đòi hỏi phải có tàu hộ tống - vốn cũng rất khan hiếm trong hạm đội Anh.
Mỹ sẽ đối mặt với nhiều thách thức nếu dự định tự mình mở lại eo biển. Việc rà phá thủy lôi vốn dĩ rất chậm. Chiến dịch rà phá thủy lôi quy mô lớn cuối cùng của phương Tây, sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, đã kéo dài hơn 7 tuần. Tự mình thực hiện việc này sẽ tập trung rủi ro vào lực lượng Mỹ và làm quá tải năng lực rà phá thủy lôi vốn đã hạn chế.
“Các phương án khác như trực thăng có khả năng chống mìn sẽ không thể khắc phục được mối đe dọa từ máy bay không người lái hoặc tên lửa”, ông Arun Dawson - nghiên cứu sinh tiến sĩ thuộc Khoa Nghiên cứu Chiến tranh, Đại học King's College London - nhận định.
“Nếu Washington muốn nhắm mục tiêu vào các tàu rải thủy lôi và các cơ sở hải quân, các địa điểm phóng máy bay không người lái và tên lửa ven biển của Iran, họ phải đưa quân bộ binh vào lãnh thổ. Đấy sẽ là quyết định không mấy dễ chịu và tiềm ẩn quá nhiều hệ lụy”, ông Dawson nói thêm.
Và một lực lượng dân quân biển đáng gờm
Theo phân tích của Euronews, trong những năm qua, IRGC đã xây dựng nhiều phương tiện đe dọa để triển khai tại eo biển Hormuz nếu xảy ra sự cố.
Ông Farzin Nadimi, một chuyên gia cấp cao tại Viện Chính sách Trung Đông Washington, cho biết một trong số đó là các tàu chiến của lực lượng dân quân Basij và các tàu đánh cá dân sự để ngụy trang cho hoạt động giám sát, đảm bảo tầm nhìn trực tiếp từ các cụm đảo kiên cố mà Iran kiểm soát.
Lực lượng này có căn cứ tại Abu Musa, hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng nhất trong số các đảo mà Iran kiểm soát ở cửa Vịnh Ba Tư. Nơi này - theo Nadimi - giống như “phiên bản thu nhỏ của thành phố tên lửa mà IRGC xây dựng ở nhiều nơi tại Iran, với hệ thống công sự ngầm phức tạp", các căn cứ drone, đường băng, trận địa tên lửa và rocket.
Ngoài ra, cần nói đến Đảo Farur - nơi đóng quân của một đơn vị đặc nhiệm thuộc IRGC. "Đơn vị này được huấn luyện để thực hiện các hoạt động bí mật - trong đó có việc lẻn vào bến du thuyền và cho nổ những chiếc du thuyền trị giá hàng triệu USD”, ông Nadimi nói với Euronews. “Đây là những loại hành động có thể khiến mức độ căng thẳng ở vùng biển xung quanh leo thang cao hơn nữa”.
Với những vũ khí, lực lượng và cách đánh như vậy, IRGC rõ ràng có cơ sở để tự tin vào khả năng A2/AD của mình. Trong khi với hải quân Mỹ, đè bẹp được sức kháng cự ấy không phải bài toán dễ dàng, đặc biệt nếu nhìn vào họ chật vật đối phó với những màn tấn công tàu thuyền do Houthi - lực lượng dân quân thân Iran - thực hiện ở Biển Đỏ, ngoài khơi Yemen.