Dạy xác suất, thống kê từ lớp 2: Quan trọng là dạy thế nào?

(NB&CL) Mới đây, PGS.TS Ngô Hoàng Long - Trường đại học Sư phạm Hà Nội, đã chia sẻ với báo chí về việc thống kê và xác suất được xác định là một trong ba mảng kiến thức quan trọng của môn toán trong chương trình giáo dục phổ thông mới. 

Đáng chú ý, phần kiến thức xác suất, thống kê sẽ được đưa vào dạy từ lớp 2. Thông tin trên đã vấp phải ý kiến trái chiều của dư luận. Rất nhiều phụ huynh cho rằng, bộ môn xác suất, thống kê rất “khó nuốt”. Một số chuyên gia giáo dục cho rằng, nếu nhìn vào nội dung chương trình thì môn học này không đáng sợ, không ghê gớm như người ta bàn tán. Tuy nhiên,điều đáng bàn không phải việc ngành giáo dục đưa gì vào chương trình mà đưa vào và dạy như thế nào để đừng biến môn học trở thành nỗi sợ hãi của con trẻ.

Đơn giản và cần thiết

Xác suất, thống kê trước đây được đưa vào chủ yếu ở lớp 7, lớp 10, một chút ở lớp 4, 5. Ở chương trình mới, nó sẽ xuất hiện từ lớp 2 đến lớp 12, đề cập theo hướng đồng tâm, nâng cao dần.

1_LRDQ

Nhìn tổng thể, nội dung xác suất, thống kê trong chương trình mới không tăng nặng về kiến thức nhưng thay đổi lớn về thời lượng nhằm hình thành các năng lực, kỹ năng giúp học sinh có nhận thức, có khả năng phân tích, đánh giá, xử lý các vấn đề trong cuộc sống. Cụ thể ở cấp tiểu học, thời lượng dạy xác suất, thống kê là 3%, đến THPT là 14%.

Trao đổi trên báo Tuổi Trẻ, GS.TS Đỗ Đức Thái - Tổng chủ biên chương trình môn toán - cho biết nhiều người nhìn vào tên gọi “xác suất, thống kê” - vốn là khái niệm trừu tượng - nên lo sợ con trẻ bị quá tải, bị học khó quá và không cần thiết phải học khó như thế ở lớp 2, lớp 3. Nhưng nếu nghiên cứu chương trình, đọc các bài học thiết kế theo chương trình sẽ thấy nó nhẹ nhàng, đơn giản nhưng rất thiết thực với học sinh từ bậc tiểu học. GS. Đỗ Đức Thái đưa ra ví dụ khi chơi cá ngựa, mỗi lần gieo viên xúc xắc, các em học sinh sẽ thấy không thể chắc chắn gieo được mặt sáu, mặt năm, mà còn có thể có cả một, hai... Thao tác đó cho các em khái niệm về sự “chắc chắn” hay “có thể”.  Hay một trò chơi khác, cho các quả bóng màu xanh và đỏ vào hộp kín và thò tay lấy bóng ra, có thể sẽ lấy vào quả xanh, nhưng có thể lấy quả đỏ.

Theo ông Đỗ Đức Thái, nói dạy “xác suất” ai cũng sợ, nhưng thực chất nó đơn giản, nhẹ nhàng như thế. Đó là cách để trẻ có khái niệm ban đầu về những hiện tượng, sự việc có thể hoặc không thể xảy ra trong cuộc sống. Nó không chỉ có trong toán, mà còn có trong các môn học khác như tự nhiên xã hội khi đặt ra các tình huống cụ thể. Ví dụ nếu sờ tay vào ổ điện, ổ điện không có điện sẽ không sao cả, nhưng nếu có điện sẽ gặp nguy hiểm. Dạy trẻ điều đó để biết khi ta hành động thì sẽ xảy ra hậu quả gì...

Tương tự, bài học về “thống kê” ở tiểu học cũng đơn giản như vậy. Ở lớp 2, trẻ có thể sẽ thực hiện các yêu cầu đi trong lớp xem có bao nhiêu bạn đang có tẩy, bút chì, vở và ghi lại con số đã đếm. Đó là cách để trẻ làm quen với thao tác thu thập, kiểm đếm đơn giản. 

Lớp 3, cao hơn một chút, sẽ ấn định tiêu chí để học sinh thu thập, kiểm đếm. Ví dụ đặt yêu cầu “hãy xem lớp có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ?”. Học sinh đếm và ghi thống kê số học sinh nam riêng, nữ riêng, trên tổng số bao nhiêu...

Điều đáng bàn không phải việc ngành giáo dục đưa gì vào chương trình mà đưa vào và dạy như thế nào để đừng biến môn học trở thành nỗi sợ hãi của con trẻ.

Điều đáng bàn không phải việc ngành giáo dục đưa gì vào chương trình mà đưa vào và dạy như thế nào để đừng biến môn học trở thành nỗi sợ hãi của con trẻ.

Dạy như thế nào?

Thực tế, việc đưa bộ môn thống kê vào bậc tiểu học không phải là chuyện lạ. Một số nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh, Đức… đều có bộ môn xác suất và thống kê. Nhưng đó là dạng thống kê mô tả từ đó khái quát hóa lên khái niệm xác suất. Họ chỉ yêu cầu cơ bản học sinh có thể hiểu được các khả năng xảy ra với một sự kiện, có thể đọc và hiểu được số liệu trong biểu đồ…

Tuy nhiên, theo các giáo viên, việc dư luận xã hội có ý kiến trái chiều không phải việc ngành giáo dục đưa gì vào chương trình mà đưa vào và dạy như thế nào để đừng biến môn học trở thành nỗi sợ hãi của con trẻ.

Là người tiếp cận với nhiều chương trình phổ thông quốc tế, thạc sĩ Nguyễn Hồ Thụy Anh dẫn chứng: quyển sách Comprehensive Curriculum of basic skills bán ra hơn 10 triệu bản tại Mỹ, từ lớp 4 có dạy về xác suất. Nhưng hầu như việc dạy rất đơn giản, ví dụ xác suất hai mặt của đồng tiền. Sách này cũng cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 nhưng cách dạy của họ đơn giản hơn. Họ sẽ ra những bài tập đơn giản, số chẵn, không đánh đố, không mẹo vặt… chủ yếu để dạy học sinh nắm được nguyên lý của kiến thức. Còn mình thì cũng kiến thức đó nhưng cho những bài toán thật khó, số lẻ, đánh đố… “Bởi vậy, tôi cho rằng không quan trọng là đưa kiến thức gì vào dạy mà đưa như thế nào cho phù hợp với tâm lý độ tuổi, kỹ năng nhận biết của trẻ, làm cho trẻ thấy thích thú khi học”, thạc sĩ Nguyễn Hồ Thụy Anh nhấn mạnh. 

Thầy Lâm Vũ Công Chính - giáo viên toán Trường THPT Nguyễn Du (Q.10, TP.HCM), cho biết: đưa kiến thức xác suất, thống kê vào dạy từ lớp 2 là chuyện bình thường, thậm chí là tốt nhưng cần coi lại chuẩn đầu ra. Học sinh sẽ có tư duy phân tích dữ liệu. Các nội dung khác của môn toán cũng chỉ nên dừng lại ở kiến thức cơ bản, chứ đừng quá chuyên sâu, hàn lâm. Nhưng vì đề thi đặt nhiều câu hỏi khó buộc thầy trò phải “chạy đua vũ trang” theo. 

Toán học chia ra nhiều ngành, trong đó có thể xem có hai mạch chính là: toán lý thuyết và toán ứng dụng. Chương trình sách giáo khoa trước đây và hiện hành cũng có đưa toán ứng dụng vào, cụ thể là thống kê và xác suất... nhưng bị xem nhẹ do đề thi ít đề cập mảng kiến thức này.

Do vậy, giáo viên và học sinh gần như chỉ lướt nhanh qua. Vì dạy mà không thi thì uổng phí và học sinh cũng không chú tâm. Chương trình mới hay cũ thì nội dung kiến thức cũng không thay đổi nhiều, nhưng muốn đổi mới giáo dục cần làm đồng bộ, trong đó đổi mới cách đánh giá mới quan trọng. Nên thay đổi cách đánh giá đầu ra thay vì bàn cãi nội dung bài dạy. 

Cần cẩn trọng

Thầy giáo Lê Đức Vĩnh - nguyên Tổ trưởng tổ Toán, Học việ‌n Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng việc tiếp cận với kiến thức xá‌c suất – thống kê ngay từ lớ‌p 2 có lẽ còn hơi sớm đối với học sin‌h. “Ở lứa tuổi này, khả năng ngôn ngữ của các em chưa hoàn thiện, việc đưa các câu hỏi như tung một đồng xu thì sẽ có khả năng rơi ra mặt nào… thì tôi cho là hơi khiên cưỡ‌ng đối với khả năng của các em học sin‌h lớ‌p 2. Theo tôi, tốt nhất nên để học sin‌h lớ‌p 7, lớ‌p 8, các em thạo về ngôn ngữ mới bắ‌t đầu tiếp xúc với bộ môn này sẽ chuẩn hơn”.

“Lâu nay chúng ta học môn xá‌c suất – thống kê theo kiểu hàn lâm đó là dạy kiến thức xá‌c suất trước rồi từ đó mới đi tới thống kê là kết quả được sin‌h ra từ xá‌c suất. Nhưng ở nước ngoài họ thường dạy thống kê mô tả trước từ đó khái quát hóa lên khái niệm xá‌c suất. Việc tiếp cận bộ môn này cũng cần được nghiên cứ‌u để làm sao thực sự đơn gi‌ản đối với học sin‌h” – thầy Vĩnh nhậ‌n định.

Cùng chun‌g quan điểm trên, cô giáo Bùi Thu Hương (giáo viên Trường tiể‌u học Tân Sơn, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) cho hay, hiện tại kiến thức sơ đẳng của môn xá‌c suất - thống kê đã được dạy trong cấp học tiể‌u học.

“Hiện tại cuối lớ‌p 3 các em đã bắ‌t đầu được làm quen với các bà‌i toán thống kê ở mức độ rất đơn gi‌ản và nắm bắ‌t kiến thức rất tốt với khả năng tư duy ở lứa tuổi này. Tuy nhiên, nếu phần kiến thức này được dạy cho học sin‌h đầu lớ‌p 2 thì sẽ tương đối khó khăn bởi khả năng ngôn ngữ của các em chưa ph‌át triển đầy đủ, sẽ khó cho giáo viên giúp các em tiếp cận môn học” - cô giáo Thu Hương chia sẻ quan điểm về việc học xá‌c suất – thống kê từ lớ‌p 2.

“Chắc chắn nếu kiến thức xá‌c suất – thống kê được dạy ở lớ‌p 2 trong chương trình giáo dụ‌c phổ thông mới thì giáo viên sẽ phải được tập huấn phương ph‌áp gi‌ảng dạy, ngoài ra kiến thức cũng phải được sàng lọc rất kỹ càng để học sin‌h trong lứa tuổi này có thể hiểu. Cá nhân tôi cho rằng việc đưa kiến thức này vào lớ‌p 2 là hơi sớm” – Cô Hương khẳng định.

Cô giáo Thu Hương cũng cho biết mình từng nghiên cứ‌u về môn học này ở lứa tuổi cấp 1, theo nghiên cứ‌u “Hiểu về xá‌c suất trong trong lứa tuổi tiể‌u học và cận tiể‌u học” của hai nhà toán học Tatjana HodnikČadež và Maja Škrbec người Slovenia - sau khi thử nghiệm trên 623 học sin‌h từ 4 tuổi tới lớ‌p 3, các em đều có thể hiểu được sự khác nhau giữa các khả năng xảy ra của một sự kiện. “Tuy nhiên, để áp dụng ngay lập tức vào lớ‌p 2 trong chương trình phổ thông mới, theo tôi cần phải có sự thậ‌n trọng” – cô Hương chia sẻ.

Khánh An

Xem thêm

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Cỡ chữ bài viết: