Theo phương án phân vùng môi trường trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quyết định 2512/QĐ-UBND), thành phố sẽ chia địa bàn thành 3 vùng gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải và các vùng còn lại.
Trong đó, vùng bảo vệ nghiêm ngặt bao gồm khu dân cư tập trung tại các đô thị đặc biệt, loại I, II, III; các nguồn nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt; khu bảo tồn thiên nhiên; khu vực bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa và vùng lõi di sản thiên nhiên (nếu có). Đây là những khu vực có yêu cầu cao về bảo vệ môi trường và kiểm soát nguồn thải.
Đối với khu vực này, Hà Nội định hướng bảo tồn nguyên trạng các giá trị đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên và di tích lịch sử - văn hóa. Thành phố sẽ rà soát các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm cao để yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cấp hệ thống xử lý môi trường hoặc di dời khỏi khu vực bảo vệ nghiêm ngặt.
Cùng với đó, Hà Nội sẽ ưu tiên đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tách riêng nước mưa; triển khai các dự án cải tạo, hồi sinh sông, hồ, ao nội thành nhằm nâng cao chất lượng môi trường đô thị.
Bên cạnh vùng bảo vệ nghiêm ngặt, Hà Nội cũng thiết lập vùng hạn chế phát thải gồm vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên; khu vực bảo vệ II của di tích lịch sử - văn hóa; các vùng đất ngập nước quan trọng; hành lang bảo vệ nguồn nước mặt; khu dân cư thuộc đô thị loại IV, V; khu vui chơi giải trí dưới nước và các khu vực nhạy cảm về môi trường.
Tại các khu vực này, thành phố sẽ kiểm soát chặt các hoạt động phát triển nhằm hạn chế phát sinh ô nhiễm và các “điểm nóng” môi trường. Hà Nội dự kiến không cấp phép cho các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao hoặc xả thải lớn; từng bước di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư; đồng thời phục hồi môi trường tại các khu vực ô nhiễm, xử lý các điểm nóng môi trường và cải tạo các bãi rác đã đóng cửa.
Đối với các khu vực còn lại, Hà Nội định hướng phát triển theo mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số. Thành phố khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường.
Ngoài ra với phân vùng môi trường, Hà Nội cũng xây dựng phương án phân vùng chất lượng không khí thành 3 khu vực quản lý.
Trong đó, vùng bảo vệ không khí nghiêm ngặt gồm khu vực nội đô lịch sử; trung tâm chính trị - hành chính; khu dân cư mật độ cao; khu vực thường xuyên ghi nhận chỉ số AQI ở mức kém hoặc có nguy cơ ô nhiễm cao; khu vực tập trung đông dân cư nhạy cảm (trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính).
Bên cạnh đó, vùng kiểm soát phát thải cao bao gồm khu vực vành đai 2, 3, 4; các đô thị mở rộng; khu công nghiệp, cụm công nghiệp và trung tâm logistics; khu vực tập trung nhiều nguồn phát thải từ giao thông, xây dựng và sản xuất công nghiệp.
Trong khi đó, vùng đệm sinh thái - hấp thụ ô nhiễm được xác định dọc các hành lang sông Hồng, sông Nhuệ - Đáy, sông Tô Lịch, hệ thống hồ điều hòa và hồ cảnh quan rừng, các khu vực rừng đặc dụng, khu vực cây xanh đô thị, hành lang xanh, nêm xanh, khu vực sản xuất nông nghiệp. Các khu vực này có vai trò hấp thụ, điều hòa và phân tán chất ô nhiễm.
Để thực hiện mục tiêu kiểm soát ô nhiễm không khí, Hà Nội sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về giao thông, công nghiệp và quy hoạch đô thị.
Theo đó, thành phố ưu tiên phát triển giao thông công cộng xanh, mở rộng các tuyến xuyên tâm - vành đai kết hợp mô hình TOD (phát triển đô thị theo giao thông công cộng); quy hoạch vùng phát thải thấp tại khu vực nội thành, khu du lịch và khu dân cư đông đúc; đồng thời thực hiện lộ trình chuyển đổi từ phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện điện.
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, Hà Nội sẽ di dời các trường đại học lớn, bệnh viện, cơ sở phát thải lớn, làng nghề ra khỏi nội đô hoặc ra khỏi khu vực dân cư tập trung; chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống sang mô hình khu công nghiệp sinh thái; phân vùng làng nghề theo mức phát thải; quy hoạch xây dựng theo tiêu chí phát thải thấp (bắt buộc kiểm soát bụi, áp dụng vật liệu xanh...).
Đối với quy hoạch đô thị, thành phố định hướng giảm mật độ phát thải thay vì giảm mật độ dân cư; tăng diện tích cây xanh, mặt nước và công viên mở nhằm cải thiện chất lượng không khí và nâng cao chất lượng sống cho người dân.