Thúc đẩy quan hệ song phương đi vào thực chất, hiệu quả
Điểm đáng chú ý là những đánh giá từ giới học giả, chuyên gia quốc tế cho thấy chuyến thăm được nhìn nhận trong một không gian rộng hơn quan hệ giữa ba nước. Đó là biểu hiện của một Việt Nam ngày càng chủ động tham gia định hình môi trường hợp tác khu vực, đồng thời gia tăng các liên kết với những đối tác có tiềm lực về kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo.
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á thuộc Đại học New South Wales, cho rằng chuyến thăm Australia có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm chính thức Australia trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước. Chuyến thăm diễn ra vào thời điểm quan hệ hai nước đang chuyển từ giai đoạn thiết lập khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện sang giai đoạn triển khai thực chất hơn.
Nhận định này phản ánh một chuyển động quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Australia. Việc nâng cấp quan hệ vào tháng 3/2024 đã tạo ra một khuôn khổ chính trị mới, nhưng giá trị của khuôn khổ đó phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các cam kết cấp cao thành những chương trình hợp tác cụ thể. Vì vậy, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể được xem là cơ hội để hai bên rà soát những kết quả đã đạt được, xác định các ưu tiên mới và tạo động lực cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Theo Giáo sư Carl Thayer, thương mại và đầu tư tiếp tục là những lĩnh vực quan trọng, song dư địa hợp tác giữa hai nước hiện đã vượt xa những lĩnh vực truyền thống. AI, an ninh mạng, công nghệ xanh, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển nguồn nhân lực được dự báo sẽ ngày càng giữ vai trò nổi bật. Đây chính là những lĩnh vực mà nhu cầu phát triển của Việt Nam có sự tương thích với thế mạnh về nghiên cứu, công nghệ, giáo dục và chính sách của Australia.
Cựu Đại sứ Australia tại Việt Nam Andrew Goledzinowski cũng nhấn mạnh tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế. Theo ông, Australia có thế mạnh về nghiên cứu, xây dựng chính sách và quản trị, trong khi Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, quan hệ song phương có điều kiện chuyển dần từ mô hình hợp tác dựa nhiều vào thương mại, giáo dục và viện trợ phát triển sang mô hình hợp tác sâu hơn về công nghệ, chuỗi cung ứng, năng lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Đáng chú ý, ông Goledzinowski nhìn nhận những cải cách về thể chế và quản trị mà Việt Nam đang tiến hành sẽ tạo thêm điều kiện cho hợp tác kinh tế quốc tế. Đây là một góc nhìn quan trọng, bởi trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế của một quốc gia không chỉ nằm ở quy mô thị trường hay chi phí sản xuất, mà còn ở chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách và năng lực thực thi.
Do đó, chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ mở rộng hợp tác, mà còn thúc đẩy sự tương thích về thể chế, tiêu chuẩn, quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Với thế mạnh về giáo dục và nghiên cứu, Australia có thể tiếp tục là đối tác quan trọng của Việt Nam trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhất là cho các lĩnh vực công nghệ mới.
Cùng với giáo dục, hợp tác hai nước đang mở rộng sang AI, chuyển đổi số, năng lượng sạch, thích ứng biến đổi khí hậu và khoáng sản chiến lược, phù hợp với yêu cầu tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới của Việt Nam.
Trong khi đó, chuyến thăm New Zealand bổ sung một phương diện quan trọng khác. Nếu Australia là một đối tác có tiềm lực lớn về khoa học - công nghệ, tài nguyên và giáo dục, New Zealand có nhiều thế mạnh về nông nghiệp công nghệ cao, giáo dục, công nghệ thực phẩm, quản trị và phát triển bền vững. Việc Việt Nam và New Zealand nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tạo nền tảng để hai bên khai thác tốt hơn tính bổ trợ này.
Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Australia. Ảnh đồ họa: TTXVN
Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon từng đánh giá Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt đối với tương lai kinh tế của New Zealand. Điều đó cho thấy cách nhìn của Wellington đối với Việt Nam đang thay đổi theo hướng coi Việt Nam là một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á.
Hiện nay, Australia và New Zealand đều đang tăng cường gắn kết với châu Á, trong đó Đông Nam Á ngày càng giữ vị trí quan trọng. Việt Nam, với vai trò tích cực trong ASEAN, vị trí địa chiến lược và nền kinh tế có độ mở cao, trở thành một trong những cầu nối tự nhiên giữa hai quốc gia châu Đại Dương với Đông Nam Á.
Từ quan hệ song phương đến vai trò chủ động trong cấu trúc khu vực
Tiến sĩ Khoa học Dmitry Mosyakov, Giám đốc Trung tâm Đông Nam Á, Australia và châu Đại Dương thuộc Viện Phương Đông học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, cho rằng chuyến thăm thể hiện rõ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Ông đánh giá Việt Nam đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới hợp tác khu vực và quốc tế.
Từ góc nhìn này, giá trị chiến lược của chuyến thăm không chỉ nằm ở số lượng các thỏa thuận được ký kết hay quy mô thương mại và đầu tư. Quan trọng hơn, chuyến thăm góp phần mở rộng mạng lưới quan hệ của Việt Nam theo hướng đa tầng, đa lĩnh vực và cân bằng lợi ích. Việc đồng thời tăng cường quan hệ với Australia và New Zealand cho thấy Việt Nam tiếp tục chủ động tạo dựng thêm các điểm kết nối trong không gian Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Trong khi đó, Giáo sư Carl Thayer cho rằng một trong những thế mạnh lâu dài của Việt Nam là khả năng duy trì tính tự chủ chiến lược, đồng thời xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ông coi đây là một thành tựu ngoại giao đáng chú ý, thể hiện khả năng mở rộng quan hệ mà không để mình phụ thuộc vào một cực quan hệ duy nhất.
Trong logic đó, Australia và New Zealand có vị trí đặc biệt. Hai nước vừa là những đối tác phát triển, vừa có vai trò ngày càng rõ nét trong cấu trúc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Việc Việt Nam tăng cường quan hệ với hai quốc gia này giúp mở rộng không gian hợp tác về kinh tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, an ninh phi truyền thống và các vấn đề khu vực.
Đáng chú ý, hợp tác Việt Nam - Australia và Việt Nam - New Zealand còn được đặt trên nền tảng của các cơ chế đa phương mà ba bên cùng tham gia, trong đó có ASEAN, AANZFTA, RCEP và CPTPP. Những khuôn khổ này tạo ra sự đan xen lợi ích, giúp quan hệ song phương không bị tách rời khỏi cấu trúc kinh tế khu vực.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu chịu tác động của cạnh tranh chiến lược, xu hướng bảo hộ và những biến động của chuỗi cung ứng, việc củng cố các liên kết kinh tế với Australia và New Zealand có ý nghĩa đối với khả năng nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam. Đó là quá trình đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng ngày càng trở thành một mắt xích có giá trị đối với Australia và New Zealand trong chiến lược tăng cường quan hệ với Đông Nam Á. Chính sự bổ trợ lợi ích này tạo cơ sở để quan hệ ba chiều Việt Nam - Australia - New Zealand phát triển theo hướng thực chất hơn.