Long bào Đông Cứu - Thêu nét tài hoa

(NB&CL)Được biết đến là nơi có nghề độc nhất vô nhị “thêu áo cho vua”, làng Đông Cứu hiện có hàng trăm cơ sở thêu lớn nhỏ. Người thợ giờ đây đã có sự giúp sức của máy móc, năng suất lao động cao hơn, thu nhập tốt hơn, nhưng những mạch nguồn di sản văn hóa ở đâu đó vẫn âm thầm tuôn chảy…

1. Từ nội thành Hà Nội, xuôi về phía Nam khoảng 20km theo quốc lộ 1A, không khó để tìm đường đến làng Đông Cứu. Nằm bên dòng Nhuệ Giang yên ả, Đông Cứu dường như vẫn giữ nguyên vẻ thanh bình ngày xưa - dù là làng nghề nhưng vẫn không quá ồn ào, tấp nập.

Theo các bản sắc phong ở đình Đào Xá, tổ nghề thêu của làng là cụ Lê Công Hành - vị tiến sĩ thời vua Lê Thần Tông (1637). Trong một lần đi sứ Trung Quốc, cụ đã học được nghề thêu rồi mang về cho dân Đông Cứu và một số làng lân cận. Qua hàng trăm năm, nghề thêu ở các làng đi theo hướng khác nhau, ở Thắng Lợi, Quất Động là kỹ thuật thêu ren, còn ở Đông Cứu là thêu áo ngự, long bào.

long bao dong cuu theu net tai hoa hinh 1

Nghệ nhân Vũ Văn Giỏi trực tiếp tham gia vào công đoạn thêu một sản phẩm “hàng kỹ”.

Ông Nguyễn Thế Du - Chủ tịch Hiệp hội thêu truyền thống của làng nghề cho biết, Đông Cứu làm nhiều sản phẩm như tán, lọng, câu đối, áo lễ, trang phục hầu đồng... nhưng chỉ ở sản phẩm long bào của vua mới thể hiện hết tài năng của người thợ. Thế nên, ngay cả thời hiện đại bây giờ, những sản phẩm cung đình như long bào, mãng bào, thậm chí đơn giản hơn như áo Nhật Bình, không phải ai cũng làm được.

Người làng nghề vẫn kể về cụ Lê Văn Hỡi - người thêu long bào cho vua Khải Định. Cụ Hỡi sống tại Huế nhưng là người gốc Đông Cứu. Cụ là một trong hai người thợ được tuyển chọn để thêu chiếc long bào của vua Khải Định dùng trong lễ Tứ tuần đại khánh. Khi hoàn thành, mọi người đều choáng ngợp vì sự lộng lẫy của nó. Tuy nhiên, khi phát hiện một móng rồng bị che đi, nhà vua vô cùng tức giận, toan xử phạt hai người thợ. Nhưng sau khi xét kỹ, nhà vua thấy lỗi này không thuộc cụ Hỡi, vả lại nếu họ bị chém đầu sẽ không còn ai có thể sửa được áo, nên cụ Hỡi được tha và chính cụ là người sửa lại lỗi này trên long bào.

Theo ông Du, hiện có nhiều nơi làm nghề thêu, nhưng thêu đồ cung đình theo lối cổ thì chỉ có ở Đông Cứu. Lối thêu đặc trưng của làng là thêu kim tuyến. Người nghệ nhân sử dụng sợi kim tuyến để thêu các đường bao và đường viền của họa tiết như vảy rồng, vân mây, họa tiết trang trí… Khi hoàn thành, sợi kim tuyến óng ánh tạo cảm giác bắt mắt hơn rất nhiều so với chỉ màu thường. Ngoài ra, người thợ thêu còn sử dụng kỹ thuật nhồi chỉ vòng quanh kim tuyến, thêu quắn tạo ra sự chênh lề, ghệch độn… hết sức độc đáo. Các kỹ thuật này kết hợp với nhau tạo thành những hoa văn tinh xảo mà chỉ có những người có tay nghề, trình độ cao trong làng mới có thể thực hiện được.

Ngày 12/2/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định công nhận Nghề thủ công truyền thống của làng Đông Cứu là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

long bao dong cuu theu net tai hoa hinh 2

Trang phục đại triều của vua Bảo Đại do nghệ nhân Vũ Văn Giỏi phục dựng.

2. Cũng như nhiều làng nghề truyền thống khác, làng thêu Đông Cứu trải qua nhiều bước thăng trầm. Sau thời kỳ phát triển thịnh vượng, đến những năm 1960-1980, cùng với phong trào chống mê tín dị đoan, các sản phẩm thêu của Đông Cứu bị thu hẹp thị trường đáng kể. Người thợ chuyển sang thêu hàng ga gối, khăn trải bàn xuất sang Đông Âu, thêu áo ki-mô-nô cho những đơn hàng của Nhật Bản, nhưng số lượng cũng rất heo hắt. Nghề thêu các sản phẩm truyền thống với những lề lối cổ gần như thất truyền.

Đầu những năm 1990, cơ chế mới mở ra, số người thợ thêu bắt đầu trở lại với nghề nhiều hơn. Đây cũng là thời điểm ông Vũ Văn Giỏi - người nghệ nhân nhân dân duy nhất của làng Đông Cứu bây giờ bắt đầu tìm tòi, nghiên cứu khôi phục lại nghề thêu những sản phẩm truyền thống.

Ngày đó, tư liệu về trang phục cung đình xưa rất ít và khó tìm. Ở một làng quê, ông Giỏi không thể có điều kiện tiếp xúc với những bộ trang phục cổ, vốn đã rất hiếm hoi, lại được lưu giữ, bảo quản nghiêm ngặt tại các bảo tàng. Ông hoàn toàn phải mày mò, nghiên cứu qua tranh ảnh, sách báo, tư liệu trong và ngoài nước, qua tham vấn những cụ cao tuổi còn sống trong làng. Khó khăn nhiều vô kể, phần lớn những bản mẫu chỉ là ảnh đen trắng, hoa văn mờ theo năm tháng nhưng ông vẫn không từ bỏ hy vọng. Mất bảy, tám năm cùng nhiều sản phẩm lỗi, hỏng, ông Giỏi mới bước đầu thành công với chiếc mãng bào hoàng tử thời Nguyễn màu đỏ.

“May mắn là có một số Việt kiều ở nước ngoài và nhiều nhà nghiên cứu giúp đỡ, sau đó lập thành một ê-kíp làm việc nhưng cũng phải khó khăn lắm tôi mới có được thành công”, ông Giỏi nhớ lại.

Theo nghệ nhân Vũ Văn Giỏi, để phục dựng trang phục cung đình, trước hết phải có vốn hiểu biết về văn hóa thời đó. Sau đó mới đến việc phân tích kỹ các kích thước trang phục, số đo chuẩn mực của vua chúa, quý phi, thái hậu… Rồi phải sắp đặt chi tiết hoa văn, họa tiết cho cân đối, hài hòa. Bây giờ, trình độ người thợ làng nghề có thể thêu được tất cả các họa tiết trên long bào, dù khó đến mấy, nhưng việc phục chế, phục dựng lại một chiếc long bào lại ở một “tầm” khác. Đó là cần phải có bàn tay điêu luyện của người thợ từ khi thực hiện những mũi thêu nhỏ nhất đến khi ghép lại những mảnh áo và hơn hết phải có sự hiểu biết thật sự sâu sắc. Bởi thế, chỉ có nghệ nhân Vũ Văn Giỏi mới hội đủ khả năng sáng tạo, phục dựng được những chiếc long bào đúng theo nguyên bản.

long bao dong cuu theu net tai hoa hinh 3

Chiếc long bào của vua Đồng Khánh nặng tới 6kg, do 8 người thợ thực hiện trong vòng 15 tháng.

“Cũng là trang phục cung đình, nhưng mỗi bộ, mỗi triều đại và người mặc khác nhau lại có những điểm khác biệt. Tại sao hoa văn ở bộ trang phục này lại khác bộ kia, dù rất nhỏ thôi. Rồi thì trang phục thiết triều, đại lễ với trang phục hàng ngày của vua khác nhau thế nào… tất cả phải được giải mã, thấu hiểu. Nếu không có vốn văn hóa thì chỉ có thể làm ra những sản phẩm “trông giống” chứ không phải long bào”, nghệ nhân Vũ Văn Giỏi cho biết.

Từ khi phục dựng thành công chiếc mãng bào đầu tiên, đến nay, nghệ nhân Vũ Văn Giỏi đã phục chế, phục dựng được gần 30 bộ trang phục cung đình, từ áo nhà vua tới áo hoàng hậu, thái tử, công chúa. Tiêu biểu trong số đó là các bộ long bào của vua Đồng Khánh, Bảo Đại, Tự Đức, trang phục Thái hậu Từ cung... “Rất nhiều bộ trang phục cung đình được trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế là do tôi làm hoặc có dấu bàn tay phục chế của tôi”, ông Giỏi tự hào nói.

3. Nổi tiếng vì những loại “hàng kỹ”, khó làm bậc nhất, nhưng ông Giỏi thừa nhận, loại sản phẩm để nuôi sống ông là loại hàng phục vụ nhu cầu phổ thông của thị trường. Đó là những chiếc tàn, lọng, những bộ trang phục khăn chầu, áo ngự dùng trong thờ cúng và các nghi lễ tôn giáo.

Tuy nhiên, mặc dù nhiều hộ trong làng nghề đã chuyển sang dùng máy, thậm chí bây giờ máy thêu được cả khổ rất lớn để cho ra những sản phẩm đại trà giá rẻ, nhưng ông Giỏi vẫn trung thành với mặt hàng thêu tay và vẫn có thị trường riêng. Những bộ trang phục thêu máy chỉ bán từ hơn triệu đồng nhưng sản phẩm của ông làm ra vẫn có giá hàng chục triệu đồng. Đặc biệt, với hàng đặt thiết kế riêng, vải tốt, thêu công phu tỉ mỉ, sử dụng chỉ vàng và ngọc đính lên có giá lên tới hàng trăm triệu đồng.

long bao dong cuu theu net tai hoa hinh 4

Nghệ nhân Vũ Văn Giỏi và chiếc áo Nhật Bình thời Nguyễn.

“Nhiều người tò mò hỏi giá những chiếc long bào tôi phục dựng, không giấu giếm đâu nhưng thật khó trả lời, bởi đó là hàng không bán. Như chiếc long bào vua Đồng Khánh đây, chỉ tính riêng công trả cho người thợ, với 8 người làm trong 15 tháng cũng đã tròm trèm 600 triệu đồng, chưa kể nguyên liệu và các chi phí khác. Thế nên, bảo rằng giá chiếc long bào lên tới cả tỷ đồng chắc cũng không sai đâu”, ông Giỏi chia sẻ.

T.Toàn

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: