Một năm sau, câu hỏi đặt ra không còn là số đầu mối, rồi lượng biên chế hay xử lý được bao nhiêu trụ sở dôi dư, mà là bộ máy mới đang vận hành ra sao, phục vụ người dân như thế nào và đã tạo thêm những động lực gì cho phát triển.
1. Đây chính là tinh thần xuyên suốt trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, sự kiện diễn ra ngày 2/6/2026. Khi yêu cầu báo cáo phải trả lời cho được những câu hỏi như bộ máy có tinh gọn hơn không, vận hành có thông suốt hơn không, quyền hạn có rõ hơn không, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp có tốt hơn không, mô hình mới có tạo thêm động lực phát triển hay không..., Tổng Bí thư đã đặt việc sơ kết vào đúng bản chất của một cuộc cải cách.
Bởi lẽ, tổ chức bộ máy chưa bao giờ là mục tiêu tự thân của cải cách. Điều cần được kiểm chứng sau một năm không phải bộ máy đã gọn đi bao nhiêu, mà là phục vụ người dân tốt hơn đến đâu và tạo thêm động lực phát triển như thế nào.
Ở nhiều địa phương, khoảng cách giữa chính quyền với người dân đã được rút ngắn theo nghĩa rất cụ thể. Tại xã Nha Bích (Đồng Nai), gần 6.000 hồ sơ được tiếp nhận, tỷ lệ giải quyết đúng hạn đạt 99,9%; điểm đánh giá chất lượng phục vụ đạt gần 98 điểm, thuộc nhóm dẫn đầu toàn tỉnh. Người dân không còn phải đi qua nhiều tầng nấc trung gian để giải quyết các thủ tục hành chính như trước. Một người dân đến làm thủ tục xóa thế chấp chỉ mất vài phút để hoàn tất hồ sơ. Một người cao tuổi không thạo công nghệ vẫn được hỗ trợ tận tình. Những thay đổi tưởng như nhỏ ấy lại chính là thước đo chân thực nhất về chất lượng của bộ máy hành chính.
Tại Cà Mau, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt 99,6%, hồ sơ trực tuyến đạt trên 92%, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đạt hơn 97%. Hệ thống trung tâm phục vụ hành chính công từ tỉnh đến xã vận hành ổn định. Sau sáp nhập, bộ máy được tinh gọn đáng kể, giảm hàng chục đầu mối hành chính và đơn vị sự nghiệp.
Ở Ninh Bình, sau một năm triển khai mô hình mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì ở mức cao. Năm 2025 tăng trưởng đạt 10,65%; quý I/2026 đạt 11,63%, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Dĩ nhiên, không thể quy toàn bộ kết quả tăng trưởng cho việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Nhưng rõ ràng, một bộ máy vận hành thông suốt hơn, phân cấp mạnh hơn, trách nhiệm rõ hơn đang tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển.
Những kết quả đó cho thấy, cuộc cải cách lần này không chỉ dừng lại ở việc giảm đầu mối hay tinh giản biên chế, mà ở tư duy quản trị đang từng bước thay đổi. Chính quyền vừa thực hiện chức năng quản lý theo cấp hành chính vừa được đặt trong vai trò phục vụ. Quyền hạn được giao nhiều hơn cho cơ sở, trách nhiệm cũng được xác lập rõ hơn. Dữ liệu và công nghệ số từng bước trở thành công cụ điều hành thay cho lối quản lý dựa chủ yếu vào hồ sơ giấy tờ trước đây.
Công điện số 33 của Chính phủ về thúc đẩy thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến liên thông là một ví dụ. Việc xây dựng Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính, các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ chế tiếp nhận hồ sơ không phụ thuộc địa giới hành chính đang từng bước tạo nên nền tảng cho một nền hành chính số hiện đại. Lần đầu tiên trong nhiều năm, chuyển đổi số không còn được nhìn như một chương trình riêng biệt mà trở thành một phần không thể tách rời của cải cách bộ máy.
2. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những con số tích cực thì cuộc sơ kết sẽ mất đi ý nghĩa quan trọng nhất của nó. Điểm nhấn trong phát biểu của Tổng Bí thư không phải là sự ghi nhận những kết quả bước đầu mà là yêu cầu phải nhìn thẳng vào các điểm nghẽn. Bởi vì, thành công của giai đoạn sắp xếp chưa đồng nghĩa với thành công của giai đoạn vận hành. Trên thực tế, những khó khăn đã bắt đầu lộ diện.
Trước hết là câu chuyện phân cấp, phân quyền. Nhiều địa phương phản ánh khối lượng công việc ở cấp xã tăng rất mạnh sau khi bỏ cấp trung gian. Không ít nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện nay được chuyển xuống cơ sở. Trong khi đó, năng lực cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng số và nguồn lực giữa các địa phương vẫn còn chênh lệch đáng kể.
Nếu giao việc mà không giao đủ nguồn lực, giao trách nhiệm mà không trao đủ công cụ thực hiện, bộ máy cơ sở sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải. Đó chính là lý do Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu: giao quyền phải đi đôi với giao tài chính, giao nhân lực, giao dữ liệu và giao công cụ thực hiện.
Một điểm nghẽn khác là thể chế. Sau một năm vận hành, nhiều quy định, quy trình được ban hành nhưng chưa thật sự đồng bộ với yêu cầu của mô hình mới. Có những việc đã được phân cấp trên giấy tờ nhưng cơ chế thực hiện chưa rõ ràng. Có những nhiệm vụ đã được giao nhưng quy trình phối hợp giữa các cơ quan vẫn còn lúng túng.
Thực tế này cho thấy cải cách bộ máy không thể chỉ dừng ở việc sắp xếp tổ chức. Nếu thể chế không theo kịp, bộ máy mới vẫn có thể vận hành theo tư duy cũ. Song, phân cấp, phân quyền cũng đặt ra một yêu cầu mới về kiểm soát quyền lực. Trong mô hình cũ, nhiều quyết định phải đi qua nhiều tầng nấc trung gian. Điều đó có thể làm chậm quá trình xử lý công việc, nhưng đồng thời cũng tạo ra những lớp kiểm tra nhất định. Khi quyền hạn được giao mạnh hơn cho cấp cơ sở, khoảng cách từ quyết định đến thực thi được rút ngắn, yêu cầu về minh bạch, giám sát và trách nhiệm giải trình vì thế cũng trở nên cao hơn.
Đây chính là lý do Tổng Bí thư Tô Lâm đặc biệt lưu ý: phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, giám sát thì dễ phát sinh rủi ro trong thực thi quyền lực, thậm chí dẫn đến tình trạng hoặc lạm quyền, hoặc không dám làm vì sợ trách nhiệm.
Và cuối cùng là câu chuyện con người. Mọi mô hình tổ chức, dù ưu việt đến đâu, cũng chỉ phát huy hiệu quả thông qua đội ngũ cán bộ thực thi.
Tại hội nghị sơ kết ở Ninh Bình, một trong những nhiệm vụ được nhấn mạnh là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã có tư duy số, tư duy phát triển và năng lực quản trị hiện đại. Đây không chỉ là yêu cầu của riêng Ninh Bình mà là đòi hỏi chung đối với toàn bộ hệ thống.
Thực tế, trong mô hình mới, cấp xã không còn là cấp thực hiện đơn thuần. Nhiều nơi đã trở thành trung tâm điều hành trực tiếp, giải quyết trực tiếp và chịu trách nhiệm trực tiếp trước người dân. Điều đó đòi hỏi năng lực hoàn toàn khác so với trước đây.
3. Một năm chưa thể là câu trả lời cuối cùng cho thành công của cuộc cải cách có quy mô lớn và tác động sâu rộng đến toàn bộ hệ thống chính trị. Nhưng chừng đó thời gian là đủ để kiểm chứng tính đúng đắn của những quyết sách lớn và nhận diện những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Trong cuộc sơ kết lần này, Trung ương không lựa chọn cách tiếp cận quen thuộc bằng những con số về đầu mối, biên chế hay trụ sở được sắp xếp. Yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đi xa hơn: phải đánh giá chất lượng vận hành của mô hình mới. Vì thế, cuộc sơ kết lần này thực chất là quá trình kiểm chứng năng lực quản trị của cả hệ thống chính trị sau một cuộc cải cách lớn, chứ không chỉ là đánh giá một năm vận hành của mô hình tổ chức mới.
Nhìn lại thời gian qua, những kết quả bước đầu cho thấy hướng đi là đúng. Nhưng điều quan trọng hơn là cuộc cải cách đã bước sang một giai đoạn mới. Nếu giai đoạn đầu tập trung vào sắp xếp lại tổ chức, tinh gọn đầu mối và phân định lại chức năng, nhiệm vụ thì giai đoạn tiếp theo đòi hỏi bộ máy mới phải chứng minh được năng lực vận hành, năng lực phục vụ và năng lực tạo động lực cho phát triển.
Đánh giá một cách thấu đáo, giá trị của một cuộc cải cách không nằm ở số cơ quan được hợp nhất hay số tầng nấc trung gian được cắt giảm, mà ở việc người dân có được phục vụ tốt hơn hay không, doanh nghiệp có thuận lợi hơn hay không, quyền lực có được thực thi minh bạch và hiệu quả hơn hay không, và đất nước có thêm dư địa để phát triển nhanh, bền vững hay không.
Khi đó, câu chuyện của một cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy sẽ vượt ra ngoài phạm vi hành chính đơn thuần để trở thành một bước chuyển trong tư duy quản trị quốc gia. Và hành trình từ “sắp xếp xong” đến “vận hành tốt” cũng chính là hành trình xây dựng một nền hành chính hiện đại, một Nhà nước hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả như mục tiêu mà Đảng đã xác định.