Biến “vùng xám” thành “lằn ranh đỏ”
Nhiều năm qua, thị trường giải trí Việt Nam tồn tại “vùng xám” mang tên vi phạm tác quyền. Tình trạng sử dụng âm nhạc không xin phép, trốn tránh trả tiền bản quyền trên không gian mạng và các sân khấu biểu diễn trực tiếp diễn ra tràn lan. Dù nghệ sĩ liên tục lên tiếng bảo vệ “đứa con tinh thần”, các cuộc tranh cãi bùng nổ rồi lại nhanh chóng chìm vào quên lãng. Một “văn hóa xài chùa” dần bám rễ, biến các tác phẩm nghệ thuật thành tài nguyên miễn phí để các đơn vị trục lợi qua việc câu view, bán vé hay thu lợi từ quảng cáo.
Tuy nhiên, “vùng xám” ấy đang bị bóc trần. Thực hiện Công điện của Thủ tướng về việc quyết liệt đấu tranh ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, ngày 16/5, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03 - Bộ Công an) xác minh và khởi tố hàng loạt cá nhân, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nội dung số và giải trí.
Danh sách bị gọi tên đều là những “ông lớn” sở hữu hệ sinh thái giải trí hàng triệu lượt xem như BH Media, 1900 Group, Giọng ca để đời, và các đơn vị tổ chức biểu diễn đình đám như Lululola Entertainment, Mây Sài Gòn. Việc đồng loạt khởi tố 5 vụ án không đơn thuần là xử lý vi phạm kinh tế. Đây là lần đầu tiên hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan quy mô lớn bị xử lý hình sự. Bản quyền giờ đây được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt như tài sản giá trị cao, mọi hành vi xâm phạm đều có thể dẫn đến vòng lao lý.
Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, thị trường âm nhạc số tại Việt Nam đã chứng kiến những bước chuyển mình ngoạn mục, nhanh đến mức các khung khổ pháp lý hiện hành dường như rơi vào trạng thái “hụt hơi” trước thực tiễn. Hãy nhìn lại quá khứ, câu chuyện tranh chấp bản quyền vốn chỉ quanh quẩn nơi những chiếc băng đĩa, sân khấu biểu diễn hay các kênh phát thanh, truyền hình truyền thống. Còn giờ đây, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Mỗi video ngắn ngủi vỏn vẹn vài phút trên YouTube hay TikTok đều có thể biến thành “cỗ máy in tiền” mang về doanh thu hàng trăm triệu, thậm chí là hàng tỷ đồng. Khi miếng bánh lợi nhuận ngày một lớn hơn, những xung đột nảy sinh là điều tất yếu.
Một trong những cuộc đối đầu gay gắt và phức tạp nhất hiện nay chính là sự va chạm trực diện giữa các mạng đa kênh vận hành bằng nền tảng công nghệ (MCN) và các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả truyền thống (CMO). Bản chất của cuộc chiến này không đơn thuần là việc phân chia dòng tiền. Sâu xa hơn, đó là sự giằng co khốc liệt giữa “quyền lực công nghệ” – nơi nắm giữ dữ liệu, thuật toán cùng hệ thống Content ID – và “quyền lực pháp lý” – bên sở hữu cơ chế ủy quyền được pháp luật bảo hộ. Đáng buồn thay, đứng ở thế kẹt giữa làn đạn ấy lại chính là các nghệ sĩ, những người đôi khi chẳng thể biết nổi tác phẩm do mình mang nặng đẻ đau đang đem lại tiền cho ai.
Một bài hát nhưng có… hai người đi thu tiền. Thực trạng trớ trêu này đang diễn ra như một cơm bữa trong làng nhạc Việt:
Một nhạc sĩ đặt bút ký hợp đồng ủy quyền cho trung tâm bảo vệ quyền tác giả để quản lý “đứa con tinh thần” của mình trên mọi phương diện khai thác. Thế nhưng ở một diễn biến khác, ca sĩ thể hiện hoặc nhà sản xuất lại đem bản ghi ấy ký kết với một MCN để vận hành trên các hệ thống quét bản quyền như YouTube CMS hay TikTok Content Management.
Rắc rối bắt đầu từ đây, bởi các nền tảng số vốn không vận hành theo tư duy “chia lớp quyền” rạch ròi giống như luật pháp truyền thống. Khi thuật toán của YouTube quét qua một video, toàn bộ doanh thu quảng cáo sẽ được gom chung thành một dòng tiền tổng hợp duy nhất. Ngay lập tức, ngòi nổ tranh chấp kích hoạt. MCN tự tin khẳng định họ có quyền thu tiền vì đang nắm quyền quản lý bản ghi. Ngược lại, tổ chức đại diện tập thể cũng không vừa khi tuyên bố phần nhạc và lời đã được tác giả ủy quyền cho họ từ trước đó. Hệ quả là trên cùng một tác phẩm âm nhạc, cả hai đơn vị đều đồng thời giơ cao tấm biển khẳng định mình là người có quyền khai thác duy nhất.
Trả lại trật tự cho thị trường bản quyền số
Việc xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là cần thiết, nhưng vài vụ án không thể giải quyết hết gốc rễ của thị trường bản quyền số. Điều cần làm là rà soát lại các hợp đồng ủy quyền, phát hành và quản lý nội dung, nhất là với những tác phẩm được sản xuất từ thời băng đĩa. Quyền phát hành vật lý phải được tách bạch với quyền khai thác và kiếm tiền trên nền tảng trực tuyến. Các nền tảng và đơn vị trung gian cũng phải minh bạch dữ liệu khai thác, doanh thu và tỷ lệ phân phối. Nghệ sĩ, nhạc sĩ, chủ bản ghi cần biết tác phẩm của mình đang được sử dụng ở đâu, ai đang nhận tiền và quyền nào đã được ủy quyền. Bảo vệ bản quyền trước hết là bảo vệ người sáng tạo và chủ sở hữu hợp pháp, không phải bảo vệ mọi đơn vị nhân danh bản quyền. Tác phẩm bị khai thác sai phạm vi cần được truy lại doanh thu. Dữ liệu bản quyền sai cần được sửa. Hành vi trục lợi cần bị xử lý theo pháp luật.
Vụ việc liên quan BH Media và một số đơn vị khác là điểm nổ của vấn đề đã tích tụ lâu dài. Thị trường âm nhạc muốn phát triển thành công nghiệp văn hóa phải trả lại cho người sáng tạo quyền kiểm soát hợp pháp, sự minh bạch và phần lợi ích đúng với giá trị tác phẩm của họ.
Việt Nam không thờ ơ với vấn đề bản quyền. Các vụ án vừa khởi tố mới đây không tự nhiên mà có. Chúng nằm trong chủ trương được ban hành qua Công điện 38 của Thủ tướng. Trọng tâm lần này không chỉ là hàng giả, hàng nhái, mà mở rộng sang không gian số, phim lậu, nhạc lậu và xâm phạm bản quyền trên các nền tảng trực tuyến. Bảo vệ sở hữu trí tuệ được nhìn nhận như một ưu tiên chính sách quốc gia, không còn là chuyện riêng của ngành âm nhạc hay là lời kêu cứu của vài nghệ sĩ.
Luật Sở hữu trí tuệ vừa sửa đổi, có hiệu lực từ tháng 4 năm nay, cũng buộc các nền tảng số gánh trách nhiệm rõ ràng hơn trong việc bảo vệ bản quyền, cho phép tòa án nhanh chóng yêu cầu gỡ bỏ hoặc khóa nội dung vi phạm và nâng mức tiền bồi thường. Đó là một bước tiến. Nhưng luật sửa đổi không đồng nghĩa quyền lực trên nền tảng dịch chuyển ngay lập tức. Nỗi sợ thật sự của nghệ sĩ vẫn còn đó. Video nằm trên kênh của chính họ, không ai gỡ, chỉ có dòng tiền âm thầm chảy sang túi kẻ khác, vì kẻ đó đã nhận vơ quyền sở hữu trong cỗ máy nhận diện.
Theo Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, riêng năm 2025, họ theo đuổi 79 vụ kiện và tranh chấp, mới giải quyết 34 vụ. Người gác cổng thật sự của không gian số lại là các nền tảng đặt ở nước ngoài, theo luật chơi riêng của họ. Cánh cửa nào cũng có nhưng cánh nào cũng mở chậm hoặc khép hờ. Vì vậy, những bản án sắp tới, dù nghiêm tới đâu cũng chỉ xử lý chuyện đã rồi. Nó không trả lại những năm tháng và khoản tiền đã mất, cũng không thay đổi thế yếu của người nghệ sĩ trong lần va chạm kế tiếp. Khởi tố là một thanh kiếm còn thứ nghệ sĩ đang thiếu là tấm khiên. Nếu để nguyên, hệ lụy không hề trừu tượng. Người viết nhạc, người hát, người dựng kênh, mỗi sáng mở bảng doanh thu lên cùng nỗi thấp thỏm: Hôm nay, cái tên lạ nào sẽ nhảy vào nhận vơ tác phẩm của mình.
Việt Nam có tham vọng rõ ràng về một nền công nghiệp văn hóa. Nhưng một nền công nghiệp không khởi đầu từ những hợp đồng triệu đô hay sân khấu hoành tráng. Nó khởi đầu từ điều giản dị hơn: Nghệ sĩ được yên tâm rằng thứ mình tạo ra phải thuộc về mình. Nếu không có sự bảo đảm tối thiểu đó, động lực sáng tạo sẽ bị ảnh hưởng. Việc cần làm sau loạt vụ án này không phải là ngồi chờ bản án. Việt Nam nên làm việc với các nền tảng số, xây dựng thủ tục phản đối nhanh, rẻ và có thời hạn bắt buộc, cho phép tạm dừng một tuyên bố sở hữu đáng ngờ và phong tỏa khoản tiền tranh chấp cho tới khi làm rõ. Luật sửa đổi yêu cầu các nền tảng phải chịu trách nhiệm rõ ràng hơn, nhưng cần cơ chế thực thi cụ thể với từng nền tảng. Đây mới là điểm mấu chốt để buộc họ vận hành theo một quy trình phản đối phù hợp và cân bằng hơn. Ai đi nhận quyền phải tự chứng minh, chứ không bắt người sáng tạo chứng minh ngược.
Xa hơn, cần một hệ thống cơ sở dữ liệu xác thực quyền của quốc gia mạnh hơn. Chẳng hạn, Hàn Quốc có hệ thống quản lý quyền âm nhạc thông qua Korea Music Copyright Association (KOMCA), Nhật Bản có Japanese Society for Rights of Authors, Composers and Publishers (JASRAC). Các tổ chức này không chỉ thu tiền bản quyền mà còn xây dựng kho dữ liệu xác thực tác phẩm, giúp nền tảng và đối tác đối chiếu quyền sở hữu. Khi tranh chấp xuất hiện, câu hỏi không còn là “ai khai báo trước”, mà là “ai có hồ sơ quyền được xác nhận”. Những hành động này sẽ tạo lập cơ chế để nghệ sĩ chứng minh được tác phẩm là của mình bằng một nguồn chính thức trong nước, thay vì lệ thuộc vào việc ai giành được công cụ khai báo trên nền tảng nước ngoài.