Theo đó, sẽ xử phạt từ 20 đến 30 triệu đồng đối với các hành vi chia sẻ tác phẩm báo chí trên mạng xã hội mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Điều này đã tạo ra nhiều tranh luận trong dư luận. Không ít người đặt câu hỏi: Liệu việc chia sẻ một bài báo có phải lúc nào cũng là hành vi xâm phạm quyền tác giả? Và đâu là ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin của công chúng với quyền sở hữu trí tuệ của cơ quan báo chí và tác giả? Thực tế, để trả lời câu hỏi này cần quay trở lại một nguyên tắc pháp lý cơ bản nhưng thường bị hiểu chưa đầy đủ: sự khác biệt giữa “tin tức thời sự thuần túy đưa tin” và “tác phẩm báo chí”.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Luật SHTT), tác phẩm báo chí là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác. Xét về đặc điểm, “tác phẩm báo chí” bao giờ cũng có sự tham gia sáng tạo của tác giả như: Lựa chọn đề tài, thu thập và xử lý thông tin, sắp xếp bố cục, diễn đạt bằng ngôn ngữ riêng, phân tích đưa ra nhận định hoặc góc nhìn riêng. Ví dụ: Phóng sự điều tra về nạn buôn lậu; Bài phân tích pháp lý về tranh chấp quyền tác giả… Do vậy, tác phẩm báo chí được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT. Trái lại, tại Khoản 1 Điều 15 quy định rõ “tin tức thời sự thuần túy đưa tin” là đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Bởi do đặc điểm của tin tức thời sự thuần túy chỉ là những thông tin phản ánh sự kiện khách quan, đơn thuần trả lời các câu hỏi: ai? cái gì? ở đâu? khi nào? mà hầu như không có yếu tố sáng tạo. Ví dụ: Ngày 5/6/2026 Chính phủ họp phiên thường kỳ…, Bão số 5 đổ bộ vào Quy Nhơn lúc 15 giờ… tất cả các dữ kiện này thuộc về công chúng, không ai được độc quyền.
Thông tin, sự kiện không được bảo hộ
Trong nền kinh tế tri thức, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay, thông tin là một nguồn lực quan trọng. Tuy nhiên, không phải mọi thông tin đều là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Như đã nêu trên, Khoản 1 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định rõ: “Tin tức thời sự thuần túy đưa tin” không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Quy định này phản ánh một nguyên tắc phổ quát của pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế. Tại Khoản 8 Điều 2 của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật cũng cho phép các quốc gia thành viên loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ “các tin tức thời sự hay sự kiện, số liệu vụn vặt chỉ mang tính chất thông tin báo chí”. Đây cũng là nguyên tắc được áp dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu.
Nói cách khác, sự kiện không phải là tài sản độc quyền của bất kỳ ai. Một phiên họp của Quốc hội, một vụ cháy lớn, một quyết định điều hành kinh tế của Chính phủ hay một thương vụ đầu tư nước ngoài đều là những dữ kiện khách quan thuộc về đời sống xã hội. Không cơ quan báo chí nào có thể độc quyền sở hữu các sự kiện đó. Đó cũng là lý do vì sao nhiều tờ báo có thể đồng thời đưa tin về cùng một sự kiện mà không phát sinh tranh chấp bản quyền.
Tuy nhiên, nếu cho rằng “Tin tức thời sự thuần túy” không được bảo hộ nên có thể sao chép nguyên bài báo. Điều này hoàn toàn không đúng, cụ thể như độc giả có quyền sử dụng dữ kiện trong bài báo như: Hoa Kỳ áp thuế x% lên quốc gia Y”. Nhưng không được sao chép toàn bộ bài phân tích của nhà báo về nguyên nhân, hậu quả của việc áp thuế… Tóm lại pháp luật thường tách bạch thông tin, sự kiện (fact) không được bảo hộ và hình thức thể hiện (expression) được bảo hộ.
Bảo hộ hình thức thể hiện
Thật vậy, cái luật pháp bảo hộ chính là sự sáng tạo của con người, vì như chúng ta biết từ một sự kiện khách quan đến một tác phẩm báo chí hoàn chỉnh là một khoảng cách rất lớn. Người phóng viên phải lựa chọn góc tiếp cận, thu thập tài liệu, kiểm chứng nguồn tin, phỏng vấn nhân vật, tổ chức bố cục và thể hiện nội dung bằng ngôn ngữ của mình. Quá trình lao động đó tạo nên giá trị sáng tạo và là đối tượng được pháp luật bảo hộ.
Mặt khác, sự phát triển của mạng xã hội đã làm xuất hiện một quan niệm khá phổ biến: chỉ cần ghi nguồn thì có thể đăng lại nguyên văn bài báo. Quan niệm này không đúng, bởi việc dẫn nguồn chỉ là nghĩa vụ về mặt đạo đức, còn về mặt pháp lý thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Điều này có nghĩa là việc trích dẫn nguồn không đồng nghĩa với việc được quyền sao chép toàn bộ tác phẩm báo chí. Nếu một tài khoản mạng xã hội đăng lại nguyên văn một bài điều tra, một bài bình luận kinh tế hay một phóng sự chuyên sâu của cơ quan báo chí mà không được phép, hành vi đó bị xem là xâm phạm quyền tài sản của chủ thể quyền, dù tên tác giả và nguồn báo vẫn được ghi đầy đủ.
Trong nhiều năm qua, tình trạng “bê nguyên bài báo” về fanpage, diễn đàn hoặc các nền tảng nội dung số để thu hút lượng truy cập đã trở thành vấn đề nhức nhối của ngành báo chí. Không ít cơ quan báo chí phải đầu tư nguồn lực lớn cho hoạt động tác nghiệp nhưng doanh thu quảng cáo lại bị chia sẻ bởi những đơn vị khai thác lại nội dung mà không trả chi phí bản quyền.
Ý nghĩa của Nghị định 174
Trước thực trạng vi phạm bản quyền hiện nay, việc Nghị định 174/2026/NĐ-CP ra đời như đã bổ sung công cụ thực thi đối với các quyền vốn đã được ghi nhận trong Luật SHTT, cụ thể là chế tài xử phạt đối với hành vi cung cấp, chia sẻ tác phẩm báo chí trên mạng xã hội mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Việc này giúp tăng cường bảo vệ thành quả lao động sáng tạo. Ngoài ra, việc bảo vệ tác phẩm báo chí cũng không chỉ phục vụ lợi ích của các tòa soạn mà đây còn là điều kiện để duy trì động lực đầu tư cho báo chí chuyên nghiệp, đặc biệt là các thể loại đòi hỏi chi phí cao như điều tra, phân tích chuyên sâu hoặc báo chí giải pháp.
Không thể đánh đồng mọi nội dung báo chí với “tin tức thời sự thuần túy”. Bởi nếu như sự kiện là tài sản chung của xã hội thì cách kể lại sự kiện lại là tài sản trí tuệ của người sáng tạo. Một doanh nghiệp có thể sử dụng dữ kiện được báo chí công bố để xây dựng báo cáo nghiên cứu của riêng mình. Một chuyên gia có thể bình luận về cùng một sự kiện theo góc nhìn độc lập. Một cơ quan báo chí hoàn toàn có thể khai thác lại cùng nguồn thông tin để xây dựng bài viết mới. Nhưng việc sao chép nguyên vẹn hoặc khai thác phần thể hiện mang tính sáng tạo của tác giả lại là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Suy cho cùng, quyền được biết của công chúng và quyền được bảo hộ của người sáng tạo không phải là hai giá trị đối lập. Chúng chỉ thực sự cân bằng khi xã hội hiểu rõ rằng sự kiện thuộc về mọi người, nhưng lao động sáng tạo thì cần được tôn trọng. Tiêu chí quyết định để phân biệt tác phẩm báo chí với tin tức thời sự thuần túy chính là yếu tố sáng tạo trong cách thể hiện.