'Bạn tôi tiêm nên tôi cũng tiêm'
Bà nội anh Phạm Hồng Khuê, 68 tuổi ở Hải Phòng gần đây thường xuyên đi tiêm một loại thuốc mà bà gọi là “thuốc bổ não”. Bà không mắc bệnh thần kinh được chẩn đoán, nhưng tuổi cao, đôi lúc đau đầu, chóng mặt và hay quên nên muốn “tiêm cho yên tâm”.
Theo anh Khuê, bà biết đến việc tiêm “bổ não” qua một người bạn. Người này kể sau khi tiêm cảm thấy tỉnh táo hơn, đỡ chóng mặt, trí nhớ tốt hơn. Từ một người, vài người trong nhóm bạn của bà cùng làm theo.
“Bà tôi không biết chính xác tên thuốc, chỉ biết mọi người gọi là thuốc bổ não. Bạn bè bảo tiêm thì bà đi tiêm”, anh Khuê chia sẻ.
Tâm lý này không hiếm ở người cao tuổi. Khi xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, hay quên, nhiều người tự quy về “thiếu máu não” và tìm đến các loại thuốc được quảng cáo hoặc truyền miệng là có tác dụng bổ não, tăng tuần hoàn não.
Một số người còn sử dụng theo liệu trình định kỳ, dù không được bác sĩ chuyên khoa chỉ định.
Từng nhập viện sau mũi tiêm tại nhà
Tháng 2/2026, Trung tâm Y tế khu vực Hữu Lũng (Lạng Sơn) tiếp nhận một nam bệnh nhân 61 tuổi trong tình trạng sốt cao 39 độ C, rét run, co quắp hai tay chân, mệt nhiều và khó thở nhẹ.
Người bệnh có tiền sử tăng huyết áp, từng tai biến mạch máu não và đặt stent động mạch vành. Khai thác bệnh sử, gia đình cho biết khoảng 5 ngày trước khi nhập viện, ông tự tiêm thuốc Cerebrolysin tại nhà.
Khoảng hai giờ sau mũi tiêm, bệnh nhân xuất hiện rét run, co quắp tay chân và khó thở. Các bác sĩ theo dõi phản vệ độ II do Cerebrolysin.
Trường hợp này cho thấy thuốc được gọi là “bổ não” không đồng nghĩa với vô hại, đặc biệt khi sử dụng bằng đường tiêm.
Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam cho biết, vài năm gần đây xuất hiện tình trạng người cao tuổi truyền tai nhau về các loại thuốc “bổ não”, thậm chí tự tiêm tại nhà hoặc sử dụng theo “liệu trình”.
Theo ông, quan niệm “thuốc bổ thì không bổ ngang cũng bổ dọc” là sai lầm. Thuốc dù được sử dụng với mục đích gì cũng có chỉ định, chống chỉ định và nguy cơ tác dụng phụ. Với đường tiêm, nguy cơ phản ứng dị ứng nghiêm trọng, nhiễm khuẩn, sai liều hoặc biến chứng liên quan đến đường truyền càng cần được lưu ý.
Không có thuốc “bổ não” để phòng sa sút trí tuệ
Theo bác sĩ Hoàng, “thuốc bổ não” chủ yếu là cách gọi phổ biến trong đời sống, không phải tên của một nhóm thuốc có tác dụng chung là làm não khỏe hơn.
Một số thuốc thường được người dân gọi như vậy gồm Cerebrolysin, piracetam, citicoline, cinnarizine, flunarizine... Đây là những thuốc có cơ chế, chỉ định và bằng chứng hiệu quả khác nhau, không thể sử dụng tùy tiện.
Đặc biệt, không nên hiểu rằng người cao tuổi hay quên, chóng mặt là do “thiếu máu não” và cần tiêm thuốc.
“Việc tiêm truyền định kỳ cho người cao tuổi khỏe mạnh để phòng suy giảm trí nhớ không phải là biện pháp được khuyến cáo”, bác sĩ Hoàng nói.
Ông cho rằng, điều đáng lo hơn việc sử dụng thuốc không đúng chỉ định là người bệnh có thể bỏ qua nguyên nhân thực sự của triệu chứng.
Hay quên, lú lẫn hoặc giảm khả năng tập trung ở người cao tuổi có thể liên quan đến nhiều nguyên nhân, từ tác dụng của thuốc đang sử dụng, thiếu vitamin B12, suy giáp đến bệnh lý thần kinh, mạch máu hoặc tổn thương trong não.
Nếu chỉ điều trị theo hướng “bổ não”, người bệnh có thể mất thời gian trước khi được khám và chẩn đoán đúng.
“Mua” cảm giác yên tâm
Theo các chuyên gia, nỗi lo suy giảm trí nhớ là một trong những lý do khiến người cao tuổi dễ tin vào các sản phẩm hoặc liệu trình được giới thiệu là giúp “não khỏe”, “tăng tuần hoàn não” hay “minh mẫn lâu hơn”.
Một mũi tiêm khiến người bệnh cảm thấy mình đang chủ động chống lại quá trình lão hóa. Với con cái, việc đưa cha mẹ đi tiêm cũng tạo cảm giác đã làm điều gì đó để bảo vệ sức khỏe.
Nhưng hiệu quả của một can thiệp y tế không thể được đánh giá bằng cảm giác “thấy khỏe hơn” sau khi sử dụng.
“Chăm sóc sức khỏe não bộ không phải là tìm một loại thuốc để tiêm định kỳ mà cần xác định người bệnh có vấn đề gì, nguyên nhân từ đâu và điều trị theo chỉ định”, bác sĩ Hoàng cho biết thêm.
Để duy trì sức khỏe nhận thức, người cao tuổi cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch; duy trì vận động, ngủ đủ, ăn uống hợp lý, hạn chế rượu bia, không hút thuốc và duy trì các hoạt động trí tuệ, giao tiếp xã hội.
Khi xuất hiện tình trạng quên tăng dần, thay đổi hành vi, khó thực hiện những công việc vốn quen thuộc hoặc mất phương hướng, gia đình nên đưa người bệnh đi khám để được đánh giá.