Theo nhà báo Nguyễn Tri Thức, Ủy viên Ban Biên tập, Giám đốc Trung tâm Chuyên đề và Truyền thông – Phát hành, Tạp chí Cộng sản, tình trạng này không chỉ đơn thuần là vấn đề kỹ thuật trong khai thác thông tin, mà còn phản ánh những hạn chế trong ý thức nghề nghiệp và cách tiếp cận giá trị bản quyền trong hoạt động báo chí hiện nay.
Khi bài báo chỉ còn khác nhau ở tên tác giả
Theo ông Nguyễn Tri Thức, tình trạng sao chép nội dung trong báo chí hiện nay vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt trong môi trường truyền thông số khi thông tin được lan truyền với tốc độ rất nhanh.
Ông cho rằng nhiều trường hợp không hẳn là “đạo nhái” theo kiểu sao chép nguyên vẹn toàn bộ tác phẩm, mà phổ biến hơn là việc các cơ quan báo chí sử dụng lại thông tin của nhau nhưng gần như không có thêm sự khai thác, xử lý hay góc tiếp cận riêng.
“Có những bài gần như giống nhau hoàn toàn, chỉ thay tên phóng viên hoặc tên cơ quan báo chí”, ông nói.
Theo ông Nguyễn Tri Thức, ngay cả với các thông tin xuất phát từ thông cáo báo chí, mỗi tòa soạn vẫn cần có cách tiếp cận và triển khai khác nhau. Bởi giá trị của báo chí không nằm ở việc đăng lại thông tin, mà nằm ở cách phân tích, chọn lọc và xử lý thông tin đó.
“Nếu chỉ bê nguyên nội dung thì đó là điều không nên”, ông nhận định.
Ông cho biết trong môi trường mạng xã hội và truyền thông số, tình trạng sử dụng lại bài viết, hình ảnh hoặc thông tin mà không xin phép tác giả hay cơ quan chủ quản còn diễn ra phổ biến hơn.
Dù hầu hết các cơ quan báo chí đều quy định rõ bản quyền nội dung thuộc về tòa soạn, nhưng theo ông, việc thực hiện trên thực tế vẫn chưa thật sự nghiêm túc.
Đáng chú ý, nhiều hình thức sao chép hiện nay còn tinh vi hơn trước. Có trường hợp nội dung được đăng lại nhưng thay đổi cách dẫn nguồn, chỉnh sửa một phần câu chữ hoặc làm mờ dấu vết xuất xứ khiến người đọc khó nhận ra đâu là nguồn gốc ban đầu.
Theo ông Nguyễn Tri Thức, vấn đề này không chỉ là câu chuyện vi phạm bản quyền đơn thuần mà còn liên quan trực tiếp đến môi trường thông tin và kinh tế báo chí.
Đặc biệt với các bài điều tra hoặc phản ánh tiêu cực, ông Thức cho biết, việc sao chép nội dung còn có thể kéo theo nhiều hệ lụy phức tạp hơn câu chuyện bản quyền đơn thuần.
Ông nêu thực trạng có những trường hợp bài viết bị đăng lại ở nhiều nơi, nhưng phần ghi nguồn rất nhỏ, mờ hoặc không rõ ràng, khiến người đọc và cả đối tượng được phản ánh khó xác định đâu mới là cơ quan báo chí đăng tải đầu tiên.
Từ đó, xuất hiện tình trạng cá nhân hoặc đơn vị bị phản ánh tìm đến các cơ quan đăng lại thông tin để yêu cầu “cải chính”, tác động hoặc xử lý nội dung, trong khi đó không phải là nơi sản xuất tác phẩm gốc.
Điều này không chỉ làm sai lệch dòng chảy thông tin mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tính minh bạch và tính chính danh của hoạt động báo chí.
Phần mềm có thể quét nội dung, nhưng khó đo được chất xám
Theo nhà báo Nguyễn Tri Thức, việc phát hiện vi phạm bản quyền trong môi trường số hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, kể cả khi đã có sự hỗ trợ của các phần mềm kiểm tra nội dung.
Ông cho biết có những trường hợp hệ thống cảnh báo trùng lặp nhưng thực tế chưa hẳn đã chính xác hoàn toàn.
“Có khi mình gửi một bài viết do chính mình thực hiện, nhưng hệ thống lại báo trùng với nội dung khác. Các công cụ hiện nay chủ yếu vẫn chỉ mang tính tham khảo”, ông chia sẻ.
Theo ông, ngay cả các phần mềm trả phí cũng khó đạt độ chính xác tuyệt đối, bởi nhiều hệ thống chỉ tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn mà không chỉ ra được cụ thể mức độ sao chép hay nguồn gốc nội dung gốc.
Dù vậy, ông cho rằng công nghệ vẫn sẽ là công cụ hỗ trợ cần thiết trong việc phát hiện và hạn chế vi phạm bản quyền nếu được hoàn thiện hơn trong tương lai.
“Nếu việc quét nội dung đạt độ chính xác cao hơn, chỉ ra rõ mức độ trùng lặp và nguồn gốc thông tin thì sẽ hỗ trợ rất hiệu quả cho việc bảo vệ bản quyền”, ông nhận định.
Đề cập tới câu chuyện “đánh cắp ý tưởng” – một dạng xâm phạm ngày càng phổ biến nhưng rất khó định lượng, ông Nguyễn Tri Thức cho rằng đây là vấn đề phức tạp bởi ý tưởng vốn là thứ khó xác lập quyền sở hữu tuyệt đối.
Theo ông, nếu một ý tưởng chỉ tồn tại trong suy nghĩ thì gần như không thể chứng minh hay bảo vệ. Chỉ khi ý tưởng được thể hiện thành tác phẩm cụ thể, thành bài viết hoặc sản phẩm báo chí hoàn chỉnh thì mới có cơ sở để xác lập quyền tác giả.
“Ý tưởng nếu chưa được thể hiện ra thì rất khó nói là của ai. Khi đã trở thành bài viết hay tác phẩm cụ thể thì lúc đó mới có thể xem xét đến câu chuyện bản quyền”, ông chia sẻ.
Ông cũng cho rằng trong hoạt động sáng tạo, việc học hỏi, tiếp thu hay tham khảo tư duy từ người khác là điều bình thường, không chỉ trong báo chí mà ở mọi lĩnh vực.
Tuy nhiên, ông nhận định, vấn đề nằm ở chỗ người làm nghề có tôn trọng nguồn gốc sáng tạo hay không, có trích dẫn, ghi nhận và phát triển thành góc nhìn riêng của mình hay chỉ đơn thuần khai thác lại công sức của người khác.
Liên quan đến giải pháp hạn chế tình trạng vi phạm bản quyền trong báo chí, nhà báo Nguyễn Tri Thức cho rằng cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp mang tính căn cơ.
Trước hết là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến bản quyền báo chí theo hướng rõ ràng, khả thi và có thể áp dụng hiệu quả trong thực tế.
“Quan trọng là quy định phải đủ cụ thể để triển khai được ngay trong môi trường báo chí số”, ông nói.
Bên cạnh đó, ông nhấn mạnh vai trò của đạo đức nghề nghiệp và ý thức tôn trọng chất xám trong hoạt động báo chí. Ngoài chế tài pháp luật, cần tăng cường tuyên truyền để người làm báo nhận thức rõ hơn về quyền sở hữu trí tuệ, về sự liêm chính nghề nghiệp và trách nhiệm đối với sản phẩm sáng tạo của người khác.
Ông cũng đề xuất đưa nội dung về bản quyền và đạo đức nghề báo vào chương trình đào tạo sinh viên báo chí ngay từ đầu, thay vì chỉ xem đó là kỹ năng bổ trợ.
Đồng thời, mỗi cơ quan báo chí cũng cần xây dựng những quy định nội bộ, cơ chế quản lý và “chế tài mềm” riêng nhằm hạn chế tình trạng sao chép, vi phạm bản quyền trong hoạt động nghề nghiệp.
Theo ông Nguyễn Tri Thức, điều này không chỉ để bảo vệ tác giả hay cơ quan báo chí, mà còn để giữ gìn môi trường nghề nghiệp lành mạnh và sự tôn trọng giữa đồng nghiệp với nhau.