Điều chỉnh kích thước chữ

Khi ngân hàng Việt hướng ngoại

(NB&CL) Trong thời gian gần đây, ngoài việc mở rộng các hình thức dịch vụ, khai thác mọi ngõ ngách thị trường trong nước, các hệ thống ngân hàng đã có xu hướng dịch chuyển đầu tư ra các nước cận kề như Lào, Campuchia, Myanmar. Thậm chí một số ngân hàng còn “bạo gan” mở các văn phòng đại diện như Đức, Pháp, Nga… Đây được xem là xu thế tất yếu, tuy nhiên, rất cần sự thận trọng.

Báo nói Công luận

Xu thế tất yếu

Việc mở rộng phát triển của các ngân hàng (trong đó có cả xu hướng hướng ngoại) được coi là phù hợp với Quyết định 986 của Chính phủ về Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2025 có ít nhất 2 – 3 ngân hàng Việt nằm trong top 100 ngân hàng châu Á về tổng tài sản và có 3 – 5 ngân hàng niêm yết ở sàn chứng khoán nước ngoài. Mở rộng thị phần là một trong những chiến lược kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM), trong đó thị phần ở nước ngoài cũng là tham vọng của không ít ngân hàng. Việc đầu tư ra nước ngoài giúp các ngân hàng trong nước đa dạng hóa hoạt động, phân tán rủi ro, tăng thu phí dịch vụ, hiệu quả hoạt động, nâng cao kinh nghiệm cũng như hình ảnh, vị thế của NHTM Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Việc đầu tư của các hệ thống ngân hàng ra nước ngoài hiện nay cũng được coi là góp phần thúc đẩy thanh toán cho giao dịch ngoại thương giữa các nước sở tại, mở rộng mạng lưới khách hàng của Việt Nam. Hơn thế nữa, việc mở rộng đầu tư của hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng (TCTD) ra nước ngoài cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động tại nước ngoài có thêm cơ hội hợp tác và hỗ trợ về mặt tín dụng tài chính phù hợp, thuận lợi hơn cho các giao dịch và thanh toán quốc tế. Theo ý kiến nhiều chuyên gia, khi ngân hàng vươn ra nước ngoài, bên cạnh việc khẳng định sức cạnh tranh của các NHTM Việt Nam thì còn là những kinh nghiệm để tích lũy cho mình.

Theo thống kê, bắt đầu từ tháng 9/2011, VietinBank đã mở chi nhánh tại Đức. Sau đó ngân hàng này khai thác thêm nhiều thị trường quốc tế khác, như Lào, Myanmar. Tính sơ bộ, Vietinbank mở 2 chi nhánh tại Đức, một văn phòng đại diện tại Myanmar và 1 ngân hàng 100% vốn tại Lào. Trong khi đó BIDV được biết đến là ngân hàng tiên phong đầu tư ra nước ngoài. Hiện BIDV có ngân hàng con và văn phòng đại diện tại 6 nước và vùng lãnh thổ.

Ngoài các ngân hàng có tên tuổi, những ngân hàng thương mại cổ phần khác cũng tiếp tục khai thác xu thế này. Trong thời gian gần đây, chỉ tính riêng tại Lào đã có 6 ngân hàng Việt đặt chi nhánh, đó là Viettinbank, Vietcombank, MB, SHB, BIDV, Sacombank. Theo lãnh đạo các ngân hàng, việc mở rộng mạng lưới hoạt động sang các nước trong khu vực đang nằm trong chiến lược phát triển. Trong đó, đại diện Vietcombank cho biết, dự kiến trong thời gian tới, ngân hàng này sẽ mở chi nhánh tại Australia và văn phòng đại diện tại Mỹ.

Đầu tư ra nước ngoài là xu thế tất yếu của các ngân hàng nhưng cần phải thận trọng.

Cần tỉnh táo khi ra “biển lớn”

Theo Viện Chiến lược ngân hàng, việc các NHTM mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài những kết quả đáng ghi nhận thì cái cần lưu ý đến đấy là thách thức. Hiện nay, việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng nhất là với môi trường quốc tế đang đòi hỏi và có sự cạnh tranh rất cao. Điều này đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải chuẩn bị tốt các phương án cho hoạt động của mình, đảm bảo hoạt động ổn định, lành mạnh và hiệu quả. Hơn thế nữa, chi phí hoạt động ở nước ngoài cũng tốn kém, nếu ngân hàng không chuẩn bị tốt phương án về vốn có thể sẽ bị ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động của ngân hàng. Cho vay nước ngoài cũng có thể rủi ro vì việc tiếp cận đầy đủ thông tin cũng có phần khó khăn hơn so với trong nước hay khó khăn như hoạt động chủ yếu dựa vào vốn của ngân hàng mẹ, nguồn vốn huy động từ thị trường nước bản địa còn nhỏ.

Theo nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng, khi đầu tư ra nước ngoài, ngân hàng cần xây dựng chiến lược đầu tư, lựa chọn cách tiếp cận thị trường mục tiêu, lựa chọn đối tượng khách hàng và sản phẩm cung cấp cũng như quản trị rủi ro khi đầu tư ra nước ngoài. Bản thân NHTM phải chủ động tìm hiểu nguồn luật của quốc gia được đầu tư, hệ thống hóa các văn bản quy định về đầu tư; Tìm hiểu quy định pháp lý về hoạt động ngân hàng tại quốc gia được đầu tư… Ngân hàng nhà nước cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ các NHTM thiết lập mối quan hệ với quốc gia được đầu tư;

Đặc biệt theo khuyến nghị của giới chuyên gia, cần tăng cường các biện pháp giám sát ngành tài chính, tăng cường tương tác với ngân hàng mẹ cũng như xây dựng bộ phận chuyên trách đánh giá rủi ro từng quốc gia. Từ đó tạo ra sự hợp tác chặt chẽ nhằm trao đổi thông tin, bám sát những rủi ro cũ và tìm ra công cụ mới để đối phó với sự biến động. Khi các NHTM đầu tư ra nước ngoài thì ngân hàng nhà nước cần nâng cao vai trò đầu mối và phải kết hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước để thành lập các liên danh quản lý tài chính và kiểm soát nội bộ để tránh các rủi ro cũng như các tiêu cực sẽ phát sinh.

Đoàn Thúy