Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn quy trình kỹ thuật sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú bằng phương pháp khám lâm sàng, nhằm chuẩn hóa hoạt động phát hiện sớm bệnh ngay từ tuyến y tế cơ sở.
Khám khoảng 10 phút, có thể thực hiện ngay tại trạm y tế
Theo Bộ Y tế, toàn bộ quy trình khám lâm sàng vú kéo dài khoảng 10 phút và có thể thực hiện tại trạm y tế xã, phường, đặc khu hoặc các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu.
Người thực hiện phải là nhân viên y tế có phạm vi hành nghề phù hợp và đã được đào tạo kỹ thuật khám lâm sàng vú.
Trường hợp người khám là nam, nhân viên y tế phải tuân thủ nguyên tắc 3 người nhằm bảo đảm quyền riêng tư và sự thoải mái cho người bệnh.
Sau khi hoàn tất thăm khám, nhân viên y tế phải ghi chép đầy đủ kết quả, thông báo cho người bệnh, giải đáp các thắc mắc và hẹn lịch khám tiếp theo.
Nếu kết quả sàng lọc bình thường, người dân được hẹn khám định kỳ theo lịch. Trường hợp phát hiện bất thường, cơ sở y tế cần theo dõi việc chuyển tuyến, bảo đảm người bệnh được tiếp cận các cơ sở có khả năng chẩn đoán và điều trị chuyên sâu trong thời gian sớm nhất.
Với việc đưa khám lâm sàng vú vào quy trình sàng lọc tại tuyến y tế cơ sở, Bộ Y tế hướng tới tăng khả năng phát hiện sớm ung thư vú, nhất là trong bối cảnh tỷ lệ phụ nữ tham gia sàng lọc hiện còn thấp và phần lớn ca bệnh tại Việt Nam được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn.
Hơn 60% ca ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn III-IV
Theo Bộ Y tế, ung thư vú hiện là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên thế giới. Tỷ suất mắc chuẩn theo tuổi là 46,8/100.000 phụ nữ, trong khi tỷ suất tử vong ở mức 12,7/100.000 phụ nữ.
Tại Việt Nam, số liệu của Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) cho thấy năm 2022 có 24.563 ca mắc mới ung thư vú, chiếm 13,6% tổng số ca ung thư mới. Khoảng 10.000 phụ nữ tử vong do căn bệnh này, chiếm 8,3% số ca tử vong vì ung thư.
Tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi tại Việt Nam là 38/100.000 người, trong khi tỷ suất tử vong chuẩn theo tuổi lên tới 14,7/100.000 người.
Đáng lưu ý, hơn 60% người bệnh ung thư vú tại Việt Nam được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn III-IV. Việc chẩn đoán muộn làm giảm hiệu quả điều trị, tăng chi phí và khiến tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 74%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia phát triển.
Trong khi đó, tỷ lệ phụ nữ tham gia sàng lọc vẫn còn thấp. Theo Bộ Y tế, chỉ khoảng 22-51% phụ nữ từng được khám lâm sàng vú, 14-19% thực hiện tự khám vú và rất ít phụ nữ trong nhóm tuổi mục tiêu được chụp X-quang tuyến vú định kỳ.
Trong hướng dẫn mới, Bộ Y tế cho biết dù độ chính xác không cao bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, khám lâm sàng vẫn có giá trị trong phát hiện các khối u xâm lấn, với độ nhạy khoảng 54% và độ đặc hiệu khoảng 94%.
Đây là phương pháp đơn giản, không đòi hỏi trang thiết bị kỹ thuật cao, không làm gia tăng nguy cơ chẩn đoán hoặc điều trị quá mức và đặc biệt phù hợp để triển khai tại trạm y tế xã, phường và các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu.
Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ ung thư, người bệnh cần được tư vấn và chuyển đến cơ sở chuyên khoa để tiếp tục chẩn đoán, điều trị kịp thời.
Phụ nữ từ 40 tuổi nên khám lâm sàng vú mỗi năm
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, khám lâm sàng sàng lọc ung thư vú được áp dụng theo từng nhóm nguy cơ.
Phụ nữ có nguy cơ trung bình từ 25-39 tuổi nên khám lâm sàng vú từ 1-3 năm/lần. Từ 40 tuổi trở lên, nên khám mỗi năm một lần.
Với phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ cao, tần suất khám lâm sàng được khuyến cáo là 6-12 tháng/lần.
Đối với phụ nữ trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao, Bộ Y tế khuyến cáo bắt đầu sàng lọc từ 25 tuổi, với tần suất mỗi năm một lần. Nếu có điều kiện, nên kết hợp chụp X-quang tuyến vú hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú.
Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, ngoài khám lâm sàng hằng năm, nên kết hợp chụp X-quang tuyến vú định kỳ mỗi 1-2 năm nếu có điều kiện.
Bên cạnh việc khám định kỳ, phụ nữ tự kiểm tra tại nhà nếu phát hiện bất thường ở vú cũng cần đến cơ sở y tế để được thăm khám.