Suy thoái có thể là gánh nặng tâm lý cho tăng trưởng trong hàng thập kỷ

(CLO) Đại dịch dù lớn rồi cũng sẽ qua đi, một bình thường mới sẽ trở lại. Nhưng vết sẹo tâm lý mà suy thoái do ảnh hưởng của đại dịch để lại sẽ là gánh nặng cho tăng trưởng trong tương lai.

Vết sẹo tâm lý do suy thoái để lại....

Đại dịch, chiến tranh gây ra suy thoái nặng nề, để lại gánh nặng cho tăng trưởng trong tương lai. Ảnh: Otto Dettner

Đại dịch, chiến tranh gây ra suy thoái nặng nề, để lại gánh nặng cho tăng trưởng trong tương lai. Ảnh: Otto Dettner

Khoảng 40 năm trở lại đây, vào tháng 8 hàng năm, các nhà kinh tế học, chủ ngân hàng trung ương và các nhà chức trách Mỹ thường tập trung lại, trong khung cảnh hùng vĩ của dãy núi Teton – Wyoming để cùng nhau thảo luận về những thách thức tiền tệ lớn.

Nhưng năm nay là một ngoại lệ. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, kết qủa của Hội nghị chuyên đề tại Jackson Hole do Ngân hàng Dự trữ Liên Bang Thành phố Kansas tổ chức đã được công khai trực tuyến.

Các thính giả đều hiểu quá rõ về những thiệt hại kinh tế do đại dịch gây ra. Nhưng những vấn đề hóc búa chỉ mới bắt đầu.

Một trong những bài báo được trình bày tại hội nghị cho rằng, Covid-19 có khả năng khiến con người phải thay đổi niềm tin của mình đối với thế giới theo cách khiến cho việc khôi phục lại nền kinh tế đang bị bủa vây vốn đã khó khăn lại càng trở nên phức tạp.

Việc cho rằng một cú sốc kinh tế nghiêm trọng có thể gây ra thiệt hại lâu dài không phải là một nhận định mới.

Kể từ Cuộc Đại suy thoái, các nhà kinh tế học vĩ mô đã hiểu rằng những lần suy thoái sâu có thể đẩy một nền kinh tế vào “bẫy thanh khoản”, nơi lãi suất giảm xuống bằng 0 và các chính sách tiền tệ không thể dễ dàng tạo ra một cú hích kích thích.

Nếu không có một liều thuốc kích thích tài khóa mạnh mẽ, nền kinh tế sẽ bị nhấn chìm trong khủng hoảng.

Hoặc một cuộc suy thoái tàn khốc có thể gây ra tính “trễ” trong thị trường lao động, khiến tỉ lệ thất nghiệp gia tăng kéo dài.

Những người thất nghiệp trong thời gian dài có thể mất kết nối với thị trường lao động sâu sắc đến mức, do kỹ năng và động lực đều đã bị mài mòn, kể cả khi nhu cầu trở lại, họ vẫn chật vật trong chuyện tìm việc.

Vào những năm 1980, Olivier Blanchard từ Viện Công nghệ Massachusetts và Lawrence Summers của Đại học Harvard lập luận rằng điều này giải thích tại sao tỷ lệ thất nghiệp ở châu Âu cao hơn nhiều so với tại Mỹ.

Cả 2 tàn dư này đều có thể làm trì trệ nền kinh tế khi bước ra khỏi bóng tối của đại dịch.

Tuy vậy, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các giai đoạn kinh tế đầy đau thương có thể tạo ra lực cản tăng trưởng chỉ đơn giản bằng cách làm lung lay niềm tin của con người về tương lại.

Một ví dụ về việc này, Ulrike Malmendier của Đại học California, Berkeley và Leslie Sheng Shen của Cục Dự trữ Liên bang đã nghiên cứu các mô hình tiêu dùng hậu suy thoái và nhận thấy rằng, các giai đoạn kinh tế khó khăn và tình trạng thất nghiệp có xu hướng làm giảm tiêu dùng, thậm chí ngay cả sau khi thu nhập và các biến số khác đã được kiểm soát.

Người tiêu dùng không chỉ chi tiêu ít hơn mà còn có xu hướng chọn những mặt hàng chất lượng thấp hơn hoặc được giảm giá.

Người trẻ tuổi là nhóm đặc biệt bị ảnh hưởng, có khả năng kéo dài tác động suy giảm lên nền kinh tế.

Không nghi ngờ gì về việc đại dịch là một vết thương kinh tế tiềm tàng.

Trong một nghiên cứu gần đây về 19 tổn thương kinh tế do đại dịch, ngược dòng về thế kỷ thứ 14, Oscar Jordà, Sanjay Singh và Alan Taylor từ Đại học California, Davis, kết luận rằng những đợt bùng phát này đã làm giảm tỷ suất sinh lợi thực tế trong nhiều thập kỷ.

Họ nhận thấy rằng, trung bình, lãi suất giảm trong khoảng 20 năm và không đạt trở lại mức cũ trong 40 năm.

Tác động này được suy đoán có thể phản ánh số người thiệt hại trong những đại dịch ở quá khứ, gây sụt giảm không chỉ trong lực lượng lao động mà còn ở lợi tức của những khoản đầu tư mới rót vốn .

Nhưng đồng thời, họ cho rằng sự gia tăng tiết kiệm của những hộ gia đình quá thận trọng có thể dẫn đến tác động tiêu cực.

... là gánh nặng cho phát triển trong hàng thập kỷ

Một cuộc đại suy thoái kinh tế lớn được dự báo sẽ xảy ra sau thập kỷ này. Ảnh minh hoạ

Một cuộc đại suy thoái kinh tế lớn được dự báo sẽ xảy ra sau thập kỷ này. Ảnh minh hoạ

Công trình nghiên cứu mới thực hiện bởi Julian Kozlowski thuộc Ngân hàng Dự trữ Liên bang St Louis, Laura Veldkamp của Đại học Columbia và Venky Venkateswaran của Đại học New York dự kiến sẽ được trình bày tại hội nghị, cho thấy Covid-19 có thể để lại những vết sẹo kinh tế tương tự.

Theo giải thích của tác giả, các quyết định đầu tư được hình thành từ niềm tin của họ về tương lai.

Cách nhìn nhận rủi ro của họ sau đó còn bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm, cùng sự cộng hưởng của một cú sốc cực kỳ u ám - như Covid-19- thêm vào kho kinh nghiệm đó có thể dẫn tới hàng loạt thay đổi trong niềm tin và sẽ kéo dài suốt cả cuộc đời của họ.

Không nghi ngờ rằng, thậm chí trước khi virus corona phát tán năm nay, một vài người có thể đã nghĩ rằng những đại dịch tàn phá sẽ xảy ra, dựa vào cảnh báo của chuyên gia và nhận thức về lịch sử.

Nhưng những tác hại hữu hình, dai dẳng và nghiêm trọng kéo theo bởi một đại dịch thực sự có thể thông báo cho niềm tin của chúng ta biết về khả năng của một cú sốc tương tự khác theo cách mà những kiến thức trừu tượng không thể làm được.

Các tác giả xây dựng một mô hình nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của tác động niềm tin này lên sự phục hồi sau Covid-19.

Sau cú sốc kinh tế nghiêm trọng đầu tiên do đại dịch gây ra, sản lượng đã khôi phục nhưng không trở lại quỹ đạo tăng trưởng trước đó.

Một phần của tác động đi xuống kéo dài này có thể được giải thích bởi “sự lỗi thời của vốn”: thực tế rằng một số nguồn vốn hiện hữu không còn được sử dụng hiệu quả như trước đây, hoặc hoàn toàn không còn hiệu quả.

Ví dụ như, không gian làm việc có thể được sử dụng ít triệt để hơn, như một cách phòng bệnh.

Nhưng mọi người cũng giảm bớt kỳ vọng của mình về lợi nhuận từ các khoản đầu tư trong tương lai vì cho rằng đại dịch có khả năng cao sẽ xảy ra.

Điều này dẫn tới sự đi xuống trong đầu tư và những hoạt động tương tự khác, cũng như tốc độ tăng trưởng chậm chạp hơn.

Xét về dài hạn, GDP ở mức thấp hơn 4% so với trước khủng hoảng.

Các tác giả tính toán rằng giá trị chiết khấu hiện tại của tốn thất liên qua đế tính lỗi thời của vốn và sự thay đổi niềm tin có thể lớn hơn gấp 10 lần so với phí tổn của cú sốc ban đầu.

Và phần lớn các tổn thất dài hạn đều bắt nguồn từ sự thay đổi lòng tin.

Lí do nào để tin tưởng?

Vết sẹo tâm lý có thể phức tạp hóa những chính sách đối phó với Covid-19 một cách hóa trầm trọng.

Sự gia tăng trong tiết kiệm phòng thân và giảm ham muốn đầu tư sẽ tiếp tục kéo lãi suất đi xuống, trong khi đó mức cực thấp của chúng vốn đang bó hẹp quy mô thúc đẩy kinh tế mà chính sách tiền tệ có thể mang lại.

Và đại dịch không phải là cú sốc suy nhất có khả năng ảnh hưởng đến những niềm tin về rủi ro.

Những nguyên nhân bắt nguồn từ thay đổi khí hậu cũng góp phần.

Chính phủ thực sự đã áp dụng các công cụ nhằm giảm bớt thiệt hại tâm lý do khủng hoảng gây ra.

Chi tiêu cho hàng hóa công cộng như cơ sở hạ tầng có thể giúp ích, bằng cách tăng lãi suất cho các khoản đầu tư tư nhân bổ sung.

Do vậy, đây cũng có thể một tấm lưới bảo vệ kiên cố hơn, thông qua việc hạn chế phí tổn từ những khoản đặt cược kinh tế cá nhân thua lỗ.

Tuy nhiên, việc phục hồi hoàn toàn trước hết cũng có thể đòi hỏi những động thái nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra, cũng như tác hại tiềm tàng của các cú sốc trong tương lai, như là bằng việc chuẩn bị tốt hơn cho đại dịch và các nỗ lực làm chậm lại biến đổi khí hậu.

Bất cứ hoạt động thiếu triệt để nào đều khiến việc phục hồi nền kinh tế trở nên dang dở.

Xem thêm

Trung Đông sau cơn sóng dữ

Trung Đông sau cơn sóng dữ

(CLO) Sau giai đoạn căng thẳng cao liên quan đến Iran, tình hình Trung Đông tạm thời hạ nhiệt nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường.
Iran, nơi chiến tranh bước vào “kỷ nguyên thuật toán”

Iran, nơi chiến tranh bước vào “kỷ nguyên thuật toán”

(NB&CL) Cuộc khủng hoảng Iran đánh dấu một bước ngoặt, khi trí tuệ nhân tạo (AI) dần trở thành một công cụ cốt lõi trong chiến tranh hiện đại. Từ việc xác định mục tiêu cho tới hỗ trợ các chiến dịch ám sát, AI đang rút ngắn thời gian ra quyết định - nhưng đồng thời cũng làm dày thêm câu hỏi về trách nhiệm, đạo đức và luật pháp quốc tế.
Mối nguy Houthi phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb liệu có thể xảy ra?

Mối nguy Houthi phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb liệu có thể xảy ra?

(CLO) Những đợt tập kích tên lửa mới đây từ Yemen hướng về phía Israel làm dấy lên nỗi lo sợ về một kịch bản cực đoan hơn, đó là lực lượng Houthi có thể phong tỏa eo biển Bab al-Mandeb. Nhưng việc bóp chặt “yết hầu” vận tải toàn cầu, trong bối cảnh Hormuz đang tắc nghẽn, có phải ý tưởng sáng suốt với Houthi?
Đàm phán Mỹ - Iran trong bóng mờ kịch bản quân sự

Đàm phán Mỹ - Iran trong bóng mờ kịch bản quân sự

(CLO) Những tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về triển vọng đàm phán với Iran đang tạo ra mâu thuẫn: trong khi ngôn từ ngoại giao được nhấn mạnh, các dấu hiệu chuẩn bị quân sự lại gia tăng.
Khủng hoảng năng lượng toàn cầu: “Thời điểm thức tỉnh” cho chuyển đổi xanh

Khủng hoảng năng lượng toàn cầu: “Thời điểm thức tỉnh” cho chuyển đổi xanh

(NB&CL) Khi các chỉ số khí hậu toàn cầu đồng loạt “nhấp nháy đỏ”, cú sốc năng lượng tại eo biển Hormuz lại bồi thêm một đòn mạnh vào nền kinh tế thế giới. Nhưng từ đó, một câu hỏi sống còn lại hiện ra: Liệu nhân loại sẽ tiếp tục vay mượn tương lai bằng nhiên liệu hóa thạch, hay sẽ dùng chính cuộc khủng hoảng này làm bệ phóng cho chuyển đổi xanh?
Mỹ đang lùi bước trước 'lằn ranh' năng lượng?

Mỹ đang lùi bước trước 'lằn ranh' năng lượng?

(CLO) Những diễn biến liên tiếp xung quanh tối hậu thư của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với Iran trong vài ngày qua cho thấy một thực tế quen thuộc nhưng đáng chú ý trong chính sách đối ngoại của Washington hiện nay: sự dao động giữa răn đe cứng rắn và điều chỉnh chiến thuật nhằm tránh vượt qua “lằn ranh đỏ” của một cuộc leo thang ngoài tầm kiểm soát.
Cuộc khủng hoảng năng lượng liệu sẽ còn kéo dài?

Cuộc khủng hoảng năng lượng liệu sẽ còn kéo dài?

(CLO) Cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông, với tâm điểm là khu vực Vịnh Ba Tư, đang tạo ra những cú sốc sâu rộng đối với thị trường năng lượng toàn cầu. Liệu cuộc khủng hoảng này sẽ còn kéo dài?
Hormuz, phép thử cho chiến tranh bất đối xứng trên biển

Hormuz, phép thử cho chiến tranh bất đối xứng trên biển

(CLO) Bất chấp sức mạnh quân sự của Mỹ, với hai tàu sân bay đang triển khai, Iran vẫn đủ sức chặn đường hàng hải qua eo biển Hormuz bằng máy bay không người lái và thủy lôi. Eo biển này vì thế có thể xem như thước đo mới nhất về hiệu quả của chiến lược tiếp cận bất đối xứng trong xung đột trên biển.
Mỹ mở rộng mặt trận thương mại toàn cầu

Mỹ mở rộng mặt trận thương mại toàn cầu

(CLO) Các động thái thương mại gần đây của Mỹ cho thấy một xu hướng đáng chú ý: mở rộng phạm vi đối đầu từ cạnh tranh song phương sang tiếp cận đa phương mang tính áp đặt.
Ngày Nước thế giới 2026: Khi hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch…

Ngày Nước thế giới 2026: Khi hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch…

(NB&CL) Cho đến tận bây giờ, khi tưởng chừng thế giới đã có những bước tiến rất nhanh, thậm chí thần kỳ về nhiều mặt thì nhức nhối thay, vẫn tồn tại những thực tế rất cũ, một nghịch lý vẫn chưa có giải pháp hiệu quả, trong đó có câu chuyện thiếu thốn nước sạch. Không chỉ là con số hơn 2 tỷ người đang không có nước sạch để sử dụng.
Trung Đông sau vòng giao tranh đầu tiên: Thế cân bằng mong manh

Trung Đông sau vòng giao tranh đầu tiên: Thế cân bằng mong manh

(CLO) Chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran có thể nói đã bước qua vòng giao tranh đầu tiên. Đòn đánh "phủ đầu" của liên quân Mỹ - Israel dù rất mạnh, nhưng lại không hạ gục được Iran, khiến cuộc chiến đang phải bước sang giai đoạn hai phức tạp và khó lường hơn tới dây.
Cỡ chữ bài viết: