Bộ Giáo dục và Đào tạo thận trọng lấy ý kiến tại các địa phương trước khi đưa phương án ra rộng rãi là cần thiết, bởi bất kỳ thay đổi nào trong tuyển sinh lớp 10 cũng tác động trực tiếp đến hàng triệu học sinh và gia đình. Nhưng nếu nhìn từ thực tế tại những đô thị lớn như Hà Nội và TP. HCM, nơi cuộc đua vào một số trường công lập luôn rất gay gắt, câu hỏi đáng quan tâm là: Bớt một môn thi có thực sự bớt áp lực, hay chỉ làm áp lực “dồn toa” vào hai môn còn lại?
Là giáo viên có nhiều năm trực tiếp dạy và luyện thi vào lớp 10, cô Lan đồng tình với mục tiêu giảm áp lực thi cử nhưng cho rằng không nên xem việc giảm một môn thi là giải pháp căn cơ.
“Áp lực của kỳ thi lớp 10 không chỉ đến từ việc học sinh phải thi 3 môn, mà trước hết đến từ sự chênh lệch giữa số lượng học sinh có nhu cầu vào THPT công lập và số lượng chỉ tiêu được đáp ứng”, cô Lan nói.
Dẫn chứng điều này, cô Lan chỉ ra những địa phương có tốc độ tăng dân số học sinh cao, đặc biệt tại Hà Nội và TP. HCM, áp lực thi vào lớp 10 không chỉ nằm ở số môn thi mà trước hết ở bài toán “cung - cầu”. Khi chỉ tiêu trường công chỉ đáp ứng khoảng 80% nhu cầu, tỷ lệ chọi tại nhiều trường tốp đầu thường ở mức 1/2,5, thậm chí vượt 1/3, cuộc cạnh tranh vì thế khó hạ nhiệt dù kỳ thi có giảm từ ba xuống hai môn.
“Không thể chỉ nhìn vào số môn thi để đo áp lực. Khi “đầu vào” lớn mà “đầu ra” hạn chế, cạnh tranh tất yếu sẽ cao”, cô Lan phân tích.
Đây cũng là lý do nữ giáo viên lo ngại việc bỏ môn Ngoại ngữ, trong khi số lượng học sinh và chỉ tiêu tuyển sinh không thay đổi, có thể không làm áp lực biến mất.
Ngược lại, áp lực có khả năng chuyển mạnh hơn sang Toán và Ngữ văn.
2 môn này khi đó không chỉ giữ vai trò kiểm tra năng lực, mà còn phải “gánh” thêm trọng trách phân loại hàng vạn thí sinh. Đặc biệt ở nhóm trường có chất lượng tốt, vị trí thuận lợi, học phí phù hợp, nơi luôn thu hút đông học sinh, từng phần điểm có thể tiếp tục quyết định cơ hội trúng tuyển.
“Điều tôi băn khoăn nhất là chúng ta có thể đang giảm phần ngọn nhưng chưa giải quyết phần gốc của áp lực”, cô Lan trăn trở.
Nếu thực sự muốn giảm tải, cô Lan mong muốn đồng thời giải quyết bài toán quy mô trường lớp, chỉ tiêu tuyển sinh, phân luồng giáo dục và đổi mới cách ra đề. Giảm tải không nhất thiết phải đồng nghĩa với việc loại bỏ một môn học khỏi kỳ thi. Bởi Ngoại ngữ không còn là môn thi bắt buộc, một câu hỏi khác lập tức xuất hiện: Học sinh THCS sẽ học Tiếng Anh như thế nào?
Cô Lan cũng cảnh báo nguy cơ “môn không thi thì không học” là có thật. Không phải học sinh nào cũng có động lực tự thân đủ mạnh để duy trì việc học ngoại ngữ khi môn học ấy không còn liên quan trực tiếp đến cơ hội vào trường THPT mong muốn. Trong thực tế, kỳ thi vẫn là một trong những động lực học tập mạnh nhất đối với học sinh lứa tuổi THCS.
Khi biết Tiếng Anh không ảnh hưởng đến kết quả tuyển sinh, một bộ phận học sinh có thể giảm thời gian, công sức và cả sự đầu tư cho môn học.
Đáng nói, điều này có thể tạo ra một nghịch lý trong chính mục tiêu phát triển giáo dục hiện nay: Một mặt, Tiếng Anh ngày càng được coi là công cụ để học sinh tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế; mặt khác, nếu không còn gắn với kỳ thi tuyển sinh, một trong những động lực thúc đẩy học sinh học ngoại ngữ lại suy giảm.
Ở góc độ quản lý trường THPT, TS Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (TP. HCM) lại nhìn thấy một vấn đề khác: Dữ liệu về năng lực đầu vào của học sinh sẽ ít hơn nếu kỳ thi chỉ còn Toán và Ngữ văn.
Thầy Đảo cho biết, nhà trường không chỉ cần biết một học sinh đạt tổng điểm bao nhiêu để trúng tuyển, mà còn cần hiểu em đó mạnh ở đâu, yếu ở đâu để tổ chức dạy học phù hợp. Một học sinh có điểm Toán, Ngữ văn cao nhưng năng lực Tiếng Anh còn hạn chế sẽ cần kế hoạch hỗ trợ khác với học sinh có ngoại ngữ tốt nhưng nền tảng Toán chưa vững.
Tương tự, với những học sinh có định hướng khoa học tự nhiên, công nghệ hay khoa học xã hội, việc có thêm thông tin về năng lực ở những lĩnh vực này sẽ hữu ích cho phân lớp, phụ đạo, bồi dưỡng và tư vấn hướng nghiệp.
Nếu áp dụng phương án thi hai môn, sau khi học sinh đã trúng tuyển, các trường có thể tổ chức khảo sát đầu vào để nắm bắt năng lực thực tế.
Nhưng thầy Đảo cũng đặc biệt lưu ý: Khảo sát không được biến thành “kỳ thi thứ ba” trá hình.
“Kết quả khảo sát không nên được sử dụng để tạo thêm áp lực cho học sinh. Mục đích chính là giúp nhà trường hiểu học sinh để tổ chức dạy học, phân hóa, phụ đạo, bồi dưỡng và tư vấn hướng nghiệp phù hợp”, thầy Đảo chia sẻ thêm.
Điểm này rất quan trọng, bởi nếu không cẩn trọng, một chính sách nhằm giảm áp lực thi cử có thể vô tình tạo ra một vòng thi khác ngay sau khi học sinh đã vượt qua kỳ tuyển sinh.
Vì vậy tranh luận về hai hay ba môn thi không nên chỉ dừng ở câu hỏi “hai môn có ít quá không” hoặc “ba môn có nhiều quá không” mà ở cách thiết kế một kỳ tuyển sinh vừa công bằng, đánh giá đúng năng lực, vừa không làm lệch mục tiêu giáo dục toàn diện.
“Hai môn vẫn có thể đủ nếu đề thi khoa học, phân hóa tốt; ngược lại, nhiều môn chưa chắc bảo đảm công bằng nếu cách đánh giá chưa phù hợp. Muốn giảm áp lực từ gốc, cần đồng thời tăng cơ hội vào trường công, nâng chất lượng phân luồng và đổi mới đánh giá, tránh để học sinh chỉ tập trung vào những môn được chọn làm môn thi”, thầy Đảo nhấn mạnh.