Những vấn đề cốt lõi – từ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy đột phá khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, cho đến cải cách mạnh mẽ bộ máy và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh – không chỉ là yêu cầu của thời cuộc, mà còn là động lực để đất nước bứt phá.
Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, Đại biểu Quốc hội, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh: Trong kỷ nguyên cạnh tranh và biến động sâu rộng, Đảng phải “tự đổi mới” mạnh mẽ hơn, linh hoạt hơn, nói đi đôi với làm, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được hiện thực hoá bằng hành động. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là những tấm gương để dân tin, dân soi, dân một lòng theo Đảng – đó cũng chính là nền tảng để khơi dậy khát vọng phát triển, để Việt Nam tự tin bước vào chặng đường lớn của Kỷ nguyên vươn mình.
“Cuộc cách mạng thể chế” - điều kiện tiên quyết để mở đường phát triển
Theo PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi, năm 2026 có ý nghĩa then chốt: Mở đầu cho nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và chuẩn bị cho “Kỷ nguyên vươn mình” của đất nước. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên mà Đại hội phải đặt lên bàn là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó giải quyết tốt mối quan hệ giữa vai trò định hướng của Nhà nước và cơ chế tự vận hành của thị trường.
Ông phân tích:“Đây là bài toán điều chỉnh “cân bằng động”. Nhà nước cần hỗ trợ hoặc can thiệp ở mức độ vừa đủ để các nguyên tắc thị trường được tôn trọng, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia, an sinh xã hội và phát triển bền vững”. Điều này đòi hỏi phải có những bước đột phá mới về thể chế với “độ mở” cần thiết của cơ chế, chính sách theo đúng nghĩa kinh tế thị trường để tăng năng lực cạnh tranh và khả năng huy động cao nhất nguồn lực xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ.
PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi chỉ rõ, muốn giải phóng nguồn lực xã hội, phải loại bỏ các rào cản phát triển như tham nhũng, tiêu cực, lãng phí – kể cả lãng phí tài nguyên thiên nhiên do quy hoạch sai hoặc tăng trưởng bằng mọi giá. “Phải thực hiện công bằng giữa các thế hệ và cân bằng giữa 3 mảng phúc lợi - kinh tế, xã hội và môi trường. Không thể để lại “món nợ sinh thái” cho thế hệ sau”, ông nói.
Từ góc nhìn bình luận, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng có ít nhất 4 yêu cầu mang tính nền tảng để Việt Nam thực sự bước vào “cuộc cách mạng thể chế”. Thứ nhất, thể chế phát triển phải được thiết kế theo tư duy “tạo lập – nuôi dưỡng – bảo vệ” chứ không chỉ “quản lý – kiểm soát”. Nhà nước phải chuyển từ tư duy xin – cho sang tư duy phục vụ, tạo điều kiện, kiến tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp và người dân. Thứ hai, phải xác lập một hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, dễ dự đoán, giảm tối đa các “điểm nghẽn mềm”. Một hệ thống pháp luật ổn định sẽ là nền móng thu hút đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và kinh tế xanh. Thứ ba, phải cơ cấu lại các thị trường nền tảng: thị trường vốn, thị trường bất động sản – đất đai, thị trường lao động, thị trường khoa học – công nghệ. Các phân tích cho thấy, nếu không vận hành hiệu quả các thị trường này, nền kinh tế khó có thể bứt phá, không thể tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và không thể huy động các nguồn lực xã hội đang còn nằm im. Thứ tư, thể chế phải bảo đảm nguyên tắc công khai – minh bạch – trách nhiệm giải trình, ngăn ngừa tham nhũng và lãng phí. Lãng phí tài nguyên sinh thái, lãng phí đất đai, lãng phí nguồn lực con người… đều là những biểu hiện của thể chế kém hiệu lực. Đổi mới thể chế vì thế không chỉ là sửa luật, mà còn là đổi mới tư duy quản trị quốc gia.
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh thêm, để bứt phá về năng lực cạnh tranh và huy động nguồn lực xã hội, Việt Nam không thể chỉ cải cách theo những mô hình cũ nữa, mà phải tiến hành một cuộc cách mạng thể chế đúng nghĩa. Cụ thể: Kiên quyết cắt giảm thủ tục hành chính; tăng mạnh minh bạch và trách nhiệm giải trình; Hiện thực hóa 7 nghị quyết chiến lược của Trung ương – những “trụ cột” giúp Việt Nam cất cánh; sớm ổn định mô hình quản trị 3 cấp, chính quyền địa phương 2 cấp tinh gọn, hiệu lực – hướng tới mô hình “xã hội lớn, Chính phủ nhỏ”. Khi đó, Chính phủ tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, kiến tạo, kiểm soát cùng với một xã hội hành động, kỷ cương, kỷ luật, hiệu quả.
Tận dụng lợi thế người đi sau: Chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội
Một trong những nội dung được ông Hồi nhấn mạnh khi bàn về định hình tầm nhìn 2045 là tận dụng cơ hội vàng của Việt trong kỷ nguyên số. Hiện thế giới đang bước nhanh vào “Thế giới số và trí tuệ nhân tạo – AI” mà Liên hợp quốc dự báo sẽ định hình sau năm 2045. Ở bối cảnh đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải song hành, dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ tiên tiến.
Ông Hồi cho rằng Việt Nam phải mạnh dạn thoát khỏi mô hình tăng trưởng “kinh tế nâu, kinh tế tuyến tính” để tiến sang “kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”; chuyển từ khai thác tài nguyên “thô” sang các giá trị chức năng – dịch vụ – phi vật thể của hệ sinh thái và lãnh thổ, đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta cần ưu tiên lựa chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội của thế giới, “làm ra tấm, ra món”, coi trọng chất lượng và chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho yêu cầu mới của thời đại”.
Ông cho rằng Việt Nam cần tập trung giải quyết các mối quan hệ then chốt để tạo hiệu ứng lan tỏa và hình thành mô hình tăng trưởng mới – bền vững hơn, thông minh hơn, ít chất thải hơn và hướng tới không carbon. Đó là quá trình chú trọng chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng, tiết kiệm tài nguyên; chuyển từ khai thác tài nguyên “tươi sống” sang khai thác giá trị chức năng, giá trị dịch vụ và giá trị phi vật thể của các hệ sinh thái và lãnh thổ. Đặc biệt, Việt Nam cần tận dụng “lợi thế của người đi sau” để lựa chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội, đồng thời chuẩn bị tốt nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Đây là tư duy mới – tư duy “chọn phân khúc cao nhất để bước vào, thay vì đi lại con đường mà các quốc gia đi trước đã đi”. Nếu làm được, Việt Nam có thể rút ngắn hàng chục năm so với những mô hình phát triển truyền thống.
Cải cách bộ máy và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh – nền tảng mọi đột phá
Trả lời câu hỏi về những rào cản đối với cải cách bộ máy và công tác xây dựng Đảng, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng cán bộ và bộ máy luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, đặc biệt trong bối cảnh đất nước vừa trải qua quá trình hợp nhất đơn vị hành chính quy mô lớn. Theo ông, muốn tạo ra đột phá thật sự, cải cách bộ máy không thể chỉ dừng ở việc sắp xếp tổ chức trên giấy tờ, mà phải đi vào cốt lõi của chất lượng cán bộ, từ tư duy đến kỹ năng, từ kỷ luật công vụ đến khả năng phục vụ nhân dân.
“Cải cách bộ máy sau hợp nhất, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp hiệu lực, hiệu quả, bám sát địa bàn, gần dân đặt ra yêu cầu phải phân cấp, phân quyền mạnh hơn. Tuy nhiên, do lực lượng cán bộ cơ sở còn thiếu đồng bộ, thiếu tính chuyên nghiệp, chuyển đổi số chưa vận hành ổn định… thì việc phân cấp, phân quyền cho cấp xã, phường nên theo lộ trình chặt chẽ, tiếp cận từng bước”, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nêu rõ.
Từ góc độ bình luận, có thể thấy yêu cầu này xuất phát từ thực tế: Một bộ máy tốt chỉ mạnh bằng mắt xích yếu nhất. Ở cấp cơ sở – nơi chính quyền gần dân nhất, trực tiếp nhất – độ trễ trong xử lý công việc, sự thiếu chuyên nghiệp hay tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” có thể làm tắc nghẽn cả một hệ thống. Vì vậy, cải cách bộ máy phải đặt trọng tâm vào nâng tầm cán bộ cấp cơ sở, đào tạo lại và đào tạo mới đồng bộ, kết hợp trẻ hóa đội ngũ để tạo “làn gió mới” về tư duy hành chính. Đây chính là nền tảng để phân cấp – phân quyền thực chất, chứ không phải sự “đẩy việc” hình thức.
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh rằng, Đảng – với tư cách là lực lượng lãnh đạo toàn diện – phải tự đổi mới phương thức lãnh đạo, chuyển mạnh từ chỉ đạo mệnh lệnh sang giám sát, kiểm tra bằng kết quả; từ nhấn mạnh quy trình sang chú trọng hiệu quả. Một Đảng “nói đi đôi với làm”, phản ứng nhanh với tình hình, sửa sai kịp thời sẽ tạo ra niềm tin lớn trong nhân dân – thứ vốn chính trị vô cùng quý giá mà không quốc gia nào có thể mua được.
Đặc biệt, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhiều lần nhắc tới yêu cầu xóa bỏ tư duy nhiệm kỳ và bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm – dám chịu trách nhiệm. Đây là vấn đề “gốc rễ” của cải cách bộ máy. Bởi lẽ, nếu bộ máy trở nên an toàn hóa, nếu cán bộ e dè trước mọi quyết định vì sợ sai, sợ bị quy trách nhiệm, thì không thể có đột phá. Ngược lại, một cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, khuyến khích đề xuất giải pháp táo bạo, đồng thời có cơ chế bảo vệ người dám hành động vì lợi ích chung sẽ tạo nên sức bật mới cho toàn bộ hệ thống.
Từ góc nhìn rộng hơn, có thể thấy công cuộc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ là nhiệm vụ nội bộ, mà còn là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường phát triển hiện đại và hội nhập. Một bộ máy minh bạch, một hệ thống lãnh đạo liêm chính sẽ giảm thiểu chi phí không chính thức, bảo đảm quyền tài sản, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và thu hút đầu tư chất lượng cao. Nói cách khác, cải cách bộ máy và xây dựng Đảng chính là nền móng cho mọi cuộc cải cách khác – từ thể chế kinh tế đến đổi mới sáng tạo. Như PGS.TS Nguyễn Chu Hồi khẳng định, đổi mới bộ máy và đổi mới con người trong bộ máy là hai mặt của một quá trình. Chỉ khi đội ngũ cán bộ thực sự trở thành “công bộc của dân”, gương mẫu trong đạo đức, giỏi về chuyên môn, chuyên nghiệp trong hành xử thì khát vọng hùng cường 2045 mới có thể được dẫn dắt một cách vững chắc và bền bỉ.
Khơi dậy tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, đoàn kết toàn dân – Nền tảng thực hiện tầm nhìn 2045
Khi nói về yêu cầu chiến lược để hiện thực hóa tầm nhìn trở thành nước hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng Việt Nam cần tập trung đồng bộ vào năm nhóm nhiệm vụ lớn: đổi mới tư duy - thay đổi tầm nhìn và hành động; phát huy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển nhanh – hiệu quả – bền vững; hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
“Cán bộ gắn với bộ máy là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, nhất là sau hợp nhất các đơn vị hành chính. Cho nên, đẩy mạnh cải cách bộ máy phải tiến hành cùng với thay đổi chất lượng cán bộ, nhấn mạnh đến kỹ năng, tính chuyên nghiệp và khả năng làm việc với cộng đồng”, ông Hồi nói, đồng thời nhấn mạnh phải khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, đoàn kết toàn dân; đầu tư mạnh cho giáo dục và đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; phát huy tối đa vai trò doanh nghiệp; tận dụng hội nhập quốc tế sâu rộng để tiếp cận công nghệ và nguồn vốn mới; đồng thời có cơ chế khơi thông nguồn lực trong và ngoài nước một cách hiệu quả. Việt Nam cần chủ động ứng phó rủi ro toàn cầu từ thiên tai, dịch bệnh đến biến động địa chính trị để giữ vững ổn định và phát triển.
PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi khẳng định:“Để biến khát vọng thành hiện thực, phải chuẩn bị ngay từ hôm nay. Khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm; tập trung phát triển giáo dục và đào tạo; phát huy vai trò doanh nghiệp; tận dụng hội nhập quốc tế; mở rộng không gian phát triển thông qua tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn mới; đồng thời chủ động ứng phó rủi ro để bảo đảm ổn định”.
Khát vọng 2045: Từ thời cơ đến thành tựu
Việt Nam đang đứng trước thời cơ vàng của lịch sử: Thế và lực sau 80 năm ngày độc lập mạnh hơn bao giờ hết; khát vọng dân tộc đang được khơi dậy; và những cải cách lớn đang mở ra con đường tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Nhưng để biến thời cơ thành thành tựu, để tầm nhìn 2045 trở thành hiện thực, chúng ta cần tiến hành đồng bộ ba trụ cột: đột phá thể chế – lựa chọn công nghệ đẳng cấp – khơi dậy sức mạnh con người Việt Nam.
Đây không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp, mỗi cán bộ đều có vai trò trong hành trình đó. Tương lai hùng cường không tự đến; nó được tạo ra từ những quyết sách đúng đắn, những đổi mới dũng cảm và sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc.
Nếu tạo được sự đồng thuận lớn, cải cách mạnh mẽ, hành động quyết liệt và nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo không ngừng, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng bước vào nhóm nước phát triển vào năm 2045 - như một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.