Định hình tầm nhìn Việt Nam hùng cường, thịnh vượng

Những vấn đề cốt lõi – từ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy đột phá khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh, cho đến cải cách mạnh mẽ bộ máy và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh – không chỉ là yêu cầu của thời cuộc, mà còn là động lực để đất nước bứt phá.

Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, Đại biểu Quốc hội, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh: Trong kỷ nguyên cạnh tranh và biến động sâu rộng, Đảng phải “tự đổi mới” mạnh mẽ hơn, linh hoạt hơn, nói đi đôi với làm, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được hiện thực hoá bằng hành động. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là những tấm gương để dân tin, dân soi, dân một lòng theo Đảng – đó cũng chính là nền tảng để khơi dậy khát vọng phát triển, để Việt Nam tự tin bước vào chặng đường lớn của Kỷ nguyên vươn mình.

“Cuộc cách mạng thể chế” - điều kiện tiên quyết để mở đường phát triển

Theo PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi, năm 2026 có ý nghĩa then chốt: Mở đầu cho nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và chuẩn bị cho “Kỷ nguyên vươn mình” của đất nước. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên mà Đại hội phải đặt lên bàn là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó giải quyết tốt mối quan hệ giữa vai trò định hướng của Nhà nước và cơ chế tự vận hành của thị trường.

ĐBQH Nguyễn Chu Hồi 1
Đại biểu Quốc hội, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi.

Ông phân tích:“Đây là bài toán điều chỉnh “cân bằng động”. Nhà nước cần hỗ trợ hoặc can thiệp ở mức độ vừa đủ để các nguyên tắc thị trường được tôn trọng, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia, an sinh xã hội và phát triển bền vững”. Điều này đòi hỏi phải có những bước đột phá mới về thể chế với “độ mở” cần thiết của cơ chế, chính sách theo đúng nghĩa kinh tế thị trường để tăng năng lực cạnh tranh và khả năng huy động cao nhất nguồn lực xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ.

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi chỉ rõ, muốn giải phóng nguồn lực xã hội, phải loại bỏ các rào cản phát triển như tham nhũng, tiêu cực, lãng phí – kể cả lãng phí tài nguyên thiên nhiên do quy hoạch sai hoặc tăng trưởng bằng mọi giá. “Phải thực hiện công bằng giữa các thế hệ và cân bằng giữa 3 mảng phúc lợi - kinh tế, xã hội và môi trường. Không thể để lại “món nợ sinh thái” cho thế hệ sau”, ông nói.

Từ góc nhìn bình luận, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng có ít nhất 4 yêu cầu mang tính nền tảng để Việt Nam thực sự bước vào “cuộc cách mạng thể chế”. Thứ nhất, thể chế phát triển phải được thiết kế theo tư duy “tạo lập – nuôi dưỡng – bảo vệ” chứ không chỉ “quản lý – kiểm soát”. Nhà nước phải chuyển từ tư duy xin – cho sang tư duy phục vụ, tạo điều kiện, kiến tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp và người dân. Thứ hai, phải xác lập một hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, dễ dự đoán, giảm tối đa các “điểm nghẽn mềm”. Một hệ thống pháp luật ổn định sẽ là nền móng thu hút đầu tư chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và kinh tế xanh. Thứ ba, phải cơ cấu lại các thị trường nền tảng: thị trường vốn, thị trường bất động sản – đất đai, thị trường lao động, thị trường khoa học – công nghệ. Các phân tích cho thấy, nếu không vận hành hiệu quả các thị trường này, nền kinh tế khó có thể bứt phá, không thể tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và không thể huy động các nguồn lực xã hội đang còn nằm im. Thứ tư, thể chế phải bảo đảm nguyên tắc công khai – minh bạch – trách nhiệm giải trình, ngăn ngừa tham nhũng và lãng phí. Lãng phí tài nguyên sinh thái, lãng phí đất đai, lãng phí nguồn lực con người… đều là những biểu hiện của thể chế kém hiệu lực. Đổi mới thể chế vì thế không chỉ là sửa luật, mà còn là đổi mới tư duy quản trị quốc gia.

PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh thêm, để bứt phá về năng lực cạnh tranh và huy động nguồn lực xã hội, Việt Nam không thể chỉ cải cách theo những mô hình cũ nữa, mà phải tiến hành một cuộc cách mạng thể chế đúng nghĩa. Cụ thể: Kiên quyết cắt giảm thủ tục hành chính; tăng mạnh minh bạch và trách nhiệm giải trình; Hiện thực hóa 7 nghị quyết chiến lược của Trung ương – những “trụ cột” giúp Việt Nam cất cánh; sớm ổn định mô hình quản trị 3 cấp, chính quyền địa phương 2 cấp tinh gọn, hiệu lực – hướng tới mô hình “xã hội lớn, Chính phủ nhỏ”. Khi đó, Chính phủ tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, kiến tạo, kiểm soát cùng với một xã hội hành động, kỷ cương, kỷ luật, hiệu quả.

Tận dụng lợi thế người đi sau: Chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội

Một trong những nội dung được ông Hồi nhấn mạnh khi bàn về định hình tầm nhìn 2045 là tận dụng cơ hội vàng của Việt trong kỷ nguyên số. Hiện thế giới đang bước nhanh vào “Thế giới số và trí tuệ nhân tạo – AI” mà Liên hợp quốc dự báo sẽ định hình sau năm 2045. Ở bối cảnh đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải song hành, dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ tiên tiến.

Ông Hồi cho rằng Việt Nam phải mạnh dạn thoát khỏi mô hình tăng trưởng “kinh tế nâu, kinh tế tuyến tính” để tiến sang “kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”; chuyển từ khai thác tài nguyên “thô” sang các giá trị chức năng – dịch vụ – phi vật thể của hệ sinh thái và lãnh thổ, đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta cần ưu tiên lựa chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội của thế giới, “làm ra tấm, ra món”, coi trọng chất lượng và chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho yêu cầu mới của thời đại”.

Ông cho rằng Việt Nam cần tập trung giải quyết các mối quan hệ then chốt để tạo hiệu ứng lan tỏa và hình thành mô hình tăng trưởng mới – bền vững hơn, thông minh hơn, ít chất thải hơn và hướng tới không carbon. Đó là quá trình chú trọng chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng, tiết kiệm tài nguyên; chuyển từ khai thác tài nguyên “tươi sống” sang khai thác giá trị chức năng, giá trị dịch vụ và giá trị phi vật thể của các hệ sinh thái và lãnh thổ. Đặc biệt, Việt Nam cần tận dụng “lợi thế của người đi sau” để lựa chọn đẳng cấp công nghệ cao, vượt trội, đồng thời chuẩn bị tốt nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Đây là tư duy mới – tư duy “chọn phân khúc cao nhất để bước vào, thay vì đi lại con đường mà các quốc gia đi trước đã đi”. Nếu làm được, Việt Nam có thể rút ngắn hàng chục năm so với những mô hình phát triển truyền thống.

Cải cách bộ máy và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh – nền tảng mọi đột phá

Trả lời câu hỏi về những rào cản đối với cải cách bộ máy và công tác xây dựng Đảng, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng cán bộ và bộ máy luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, đặc biệt trong bối cảnh đất nước vừa trải qua quá trình hợp nhất đơn vị hành chính quy mô lớn. Theo ông, muốn tạo ra đột phá thật sự, cải cách bộ máy không thể chỉ dừng ở việc sắp xếp tổ chức trên giấy tờ, mà phải đi vào cốt lõi của chất lượng cán bộ, từ tư duy đến kỹ năng, từ kỷ luật công vụ đến khả năng phục vụ nhân dân.

Việt Nam hùng cường 1
Xe mô hình biểu tượng 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 diễu qua lễ đài, sáng 2/9/2025. Ảnh: thanhnien.vn.

Cải cách bộ máy sau hợp nhất, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp hiệu lực, hiệu quả, bám sát địa bàn, gần dân đặt ra yêu cầu phải phân cấp, phân quyền mạnh hơn. Tuy nhiên, do lực lượng cán bộ cơ sở còn thiếu đồng bộ, thiếu tính chuyên nghiệp, chuyển đổi số chưa vận hành ổn định… thì việc phân cấp, phân quyền cho cấp xã, phường nên theo lộ trình chặt chẽ, tiếp cận từng bước”, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nêu rõ.

Từ góc độ bình luận, có thể thấy yêu cầu này xuất phát từ thực tế: Một bộ máy tốt chỉ mạnh bằng mắt xích yếu nhất. Ở cấp cơ sở – nơi chính quyền gần dân nhất, trực tiếp nhất – độ trễ trong xử lý công việc, sự thiếu chuyên nghiệp hay tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” có thể làm tắc nghẽn cả một hệ thống. Vì vậy, cải cách bộ máy phải đặt trọng tâm vào nâng tầm cán bộ cấp cơ sở, đào tạo lại và đào tạo mới đồng bộ, kết hợp trẻ hóa đội ngũ để tạo “làn gió mới” về tư duy hành chính. Đây chính là nền tảng để phân cấp – phân quyền thực chất, chứ không phải sự “đẩy việc” hình thức.

PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh rằng, Đảng – với tư cách là lực lượng lãnh đạo toàn diện – phải tự đổi mới phương thức lãnh đạo, chuyển mạnh từ chỉ đạo mệnh lệnh sang giám sát, kiểm tra bằng kết quả; từ nhấn mạnh quy trình sang chú trọng hiệu quả. Một Đảng “nói đi đôi với làm”, phản ứng nhanh với tình hình, sửa sai kịp thời sẽ tạo ra niềm tin lớn trong nhân dân – thứ vốn chính trị vô cùng quý giá mà không quốc gia nào có thể mua được.

Đặc biệt, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhiều lần nhắc tới yêu cầu xóa bỏ tư duy nhiệm kỳ và bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm – dám chịu trách nhiệm. Đây là vấn đề “gốc rễ” của cải cách bộ máy. Bởi lẽ, nếu bộ máy trở nên an toàn hóa, nếu cán bộ e dè trước mọi quyết định vì sợ sai, sợ bị quy trách nhiệm, thì không thể có đột phá. Ngược lại, một cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, khuyến khích đề xuất giải pháp táo bạo, đồng thời có cơ chế bảo vệ người dám hành động vì lợi ích chung sẽ tạo nên sức bật mới cho toàn bộ hệ thống.

Từ góc nhìn rộng hơn, có thể thấy công cuộc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ là nhiệm vụ nội bộ, mà còn là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường phát triển hiện đại và hội nhập. Một bộ máy minh bạch, một hệ thống lãnh đạo liêm chính sẽ giảm thiểu chi phí không chính thức, bảo đảm quyền tài sản, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và thu hút đầu tư chất lượng cao. Nói cách khác, cải cách bộ máy và xây dựng Đảng chính là nền móng cho mọi cuộc cải cách khác – từ thể chế kinh tế đến đổi mới sáng tạo. Như PGS.TS Nguyễn Chu Hồi khẳng định, đổi mới bộ máy và đổi mới con người trong bộ máy là hai mặt của một quá trình. Chỉ khi đội ngũ cán bộ thực sự trở thành “công bộc của dân”, gương mẫu trong đạo đức, giỏi về chuyên môn, chuyên nghiệp trong hành xử thì khát vọng hùng cường 2045 mới có thể được dẫn dắt một cách vững chắc và bền bỉ.

Khơi dậy tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, đoàn kết toàn dân – Nền tảng thực hiện tầm nhìn 2045

Khi nói về yêu cầu chiến lược để hiện thực hóa tầm nhìn trở thành nước hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045, PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi cho rằng Việt Nam cần tập trung đồng bộ vào năm nhóm nhiệm vụ lớn: đổi mới tư duy - thay đổi tầm nhìn và hành động; phát huy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển nhanh – hiệu quả – bền vững; hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cán bộ gắn với bộ máy là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, nhất là sau hợp nhất các đơn vị hành chính. Cho nên, đẩy mạnh cải cách bộ máy phải tiến hành cùng với thay đổi chất lượng cán bộ, nhấn mạnh đến kỹ năng, tính chuyên nghiệp và khả năng làm việc với cộng đồng”, ông Hồi nói, đồng thời nhấn mạnh phải khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, đoàn kết toàn dân; đầu tư mạnh cho giáo dục và đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; phát huy tối đa vai trò doanh nghiệp; tận dụng hội nhập quốc tế sâu rộng để tiếp cận công nghệ và nguồn vốn mới; đồng thời có cơ chế khơi thông nguồn lực trong và ngoài nước một cách hiệu quả. Việt Nam cần chủ động ứng phó rủi ro toàn cầu từ thiên tai, dịch bệnh đến biến động địa chính trị để giữ vững ổn định và phát triển.

Việt Nam hùng cường 4
Để trở thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045, Việt Nam cần tập trung đồng bộ vào các yêu cầu trước mắt và lâu dài có tầm chiến lược. Ảnh: TL.

PGS. TS. Nguyễn Chu Hồi khẳng định:“Để biến khát vọng thành hiện thực, phải chuẩn bị ngay từ hôm nay. Khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm; tập trung phát triển giáo dục và đào tạo; phát huy vai trò doanh nghiệp; tận dụng hội nhập quốc tế; mở rộng không gian phát triển thông qua tiếp cận thị trường, công nghệ và nguồn vốn mới; đồng thời chủ động ứng phó rủi ro để bảo đảm ổn định”.

Khát vọng 2045: Từ thời cơ đến thành tựu

Việt Nam đang đứng trước thời cơ vàng của lịch sử: Thế và lực sau 80 năm ngày độc lập mạnh hơn bao giờ hết; khát vọng dân tộc đang được khơi dậy; và những cải cách lớn đang mở ra con đường tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Nhưng để biến thời cơ thành thành tựu, để tầm nhìn 2045 trở thành hiện thực, chúng ta cần tiến hành đồng bộ ba trụ cột: đột phá thể chế – lựa chọn công nghệ đẳng cấp – khơi dậy sức mạnh con người Việt Nam.

Đây không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp, mỗi cán bộ đều có vai trò trong hành trình đó. Tương lai hùng cường không tự đến; nó được tạo ra từ những quyết sách đúng đắn, những đổi mới dũng cảm và sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc.

Nếu tạo được sự đồng thuận lớn, cải cách mạnh mẽ, hành động quyết liệt và nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo không ngừng, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng bước vào nhóm nước phát triển vào năm 2045 - như một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: