Kết luận số 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung năng lượng: Phối hợp đồng bộ chính sách để “giữ nhịp” thị trường

Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung và giá nhiên liệu trong tình hình mới mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng; không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát biến động giá xăng dầu trước mắt, mà còn thể hiện bước chuyển mang tính chiến lược trong tư duy quản lý năng lượng. Kết luận 14-KL/TW đặt nền tảng cho cách tiếp cận dài hạn bằng tư duy mới, kết hợp linh hoạt chính sách để giữ ổn định nguồn cung và giá nhiên liệu.

Từ phản ứng nhanh đến chủ động dài hạn

Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới. Trong đó, chỉ đạo “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn” được xem là tín hiệu chính sách rõ ràng, cho thấy Trung ương đã nhận diện sớm các rủi ro đang hiện hữu và có thể gia tăng trong thời gian tới.

10.1.jpg

Một trong những nội dung cốt lõi được nhấn mạnh trong Kết luận 14 là bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong mọi tình huống, không để đứt gãy chuỗi cung ứng. Bởi lẽ, an ninh xăng dầu không chỉ dừng ở việc cân đối tổng lượng, mà còn là năng lực duy trì liên tục toàn bộ chuỗi từ khai thác - chế biến - dự trữ - phân phối. Thực tế cho thấy, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện nay dựa trên hai trụ cột chính: sản xuất nội địa và nhập khẩu.

Thứ nhất, nguồn cung trong nước từ hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất đáp ứng khoảng 70–80% nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, mức độ tự chủ còn hạn chế khi các nhà máy này vẫn phải nhập khẩu đáng kể dầu thô và cấu tử đầu vào, đồng thời thường xuyên vận hành vượt công suất thiết kế để đáp ứng nhu cầu.

Thứ hai, khoảng 20–30% nhu cầu còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu thành phẩm. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khối lượng lớn dầu thô và LPG, cho thấy sự phụ thuộc không chỉ ở đầu ra mà còn ở cả đầu vào của chuỗi cung ứng.

Cấu trúc này giúp thị trường duy trì nguồn cung ổn định trong điều kiện bình thường, nhưng cũng khiến giá và nguồn cung trong nước nhạy cảm với biến động quốc tế, từ giá dầu, chi phí logistics đến rủi ro địa chính trị. Điều này cho thấy, khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, thị trường trong nước có thể xuất hiện tình trạng thiếu hụt cục bộ. Do đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao tính tự chủ và xây dựng chiến lược dự trữ dài hạn nhằm tăng sức chống chịu cho nền kinh tế.

Một vấn đề nữa cũng cần đặt ra, đó là khả năng dự trữ của xăng dầu thông thường đáp ứng 20 ngày. Còn nhớ, trong Quyết định số 861/QĐ-TTg về quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu và khí đốt quốc gia cho thấy, mục tiêu là xây dựng một hệ thống dự trữ đủ dày để nền kinh tế có thể đứng vững trước các cú sốc bên ngoài. Trọng tâm của quy hoạch là nâng tổng mức dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu lên khoảng 75–80 ngày nhập ròng, phấn đấu đạt 90 ngày. Dù hiện nay, năng lực sản xuất trong nước đã được cải thiện, mức độ tự chủ vẫn còn hạn chế do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và thị trường bên ngoài. Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới – nơi dự trữ năng lượng đạt khoảng 90 ngày và đóng vai trò như một công cụ điều tiết thị trường – Việt Nam vẫn ở trạng thái dễ bị tác động hơn trước những biến động khó lường từ bên ngoài.

tw-dat-dung-van-de-cua-an-ninh-nang-luong-379.jpg

Kết luận 14-KL/TW cũng yêu cầu sử dụng linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách. Không chỉ dừng ở điều hành giá, Kết luận còn đặt ra bài toán phối hợp giữa tài khóa, tiền tệ và các chính sách thương mại, quản lý thị trường. Việc điều chỉnh thuế, phí, hỗ trợ lãi suất hay bảo đảm nguồn ngoại tệ… nếu được triển khai đúng thời điểm sẽ giúp giảm áp lực chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, đồng thời hạn chế tác động lan tỏa đến lạm phát. Song song với đó, việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi găm hàng, đầu cơ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định thị trường. Trong bối cảnh tâm lý dễ bị tác động, kỷ cương thị trường chính là yếu tố giúp hạn chế các biến động mang tính “kỳ vọng”.

Theo các nhà chuyên môn, dù nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản được bảo đảm, nhưng mức độ tự chủ vẫn còn hạn chế. Nguồn cung phụ thuộc một phần vào nhập khẩu, trong khi hệ thống dự trữ còn mỏng, khiến thị trường dễ bị ảnh hưởng khi có biến động lớn từ bên ngoài. Những “bài học” trong giai đoạn dịch COVID-19 hay cú sốc năng lượng toàn cầu trước đây cho thấy, chỉ cần chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thị trường trong nước có thể nhanh chóng xuất hiện tình trạng căng thẳng cục bộ. Chính vì vậy, việc Kết luận 14-KL/TW yêu cầu bảo đảm nguồn cung không chỉ mang ý nghĩa điều hành trước mắt, mà còn là cảnh báo sớm về những rủi ro có thể lặp lại nếu không có giải pháp căn cơ.

Như đã đề cập ở trên, Kết luận yêu cầu “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn”. Đây là chỉ đạo mang tính chiến lược, vượt ra ngoài phạm vi điều hành ngắn hạn. Thông điệp ở đây khá rõ: An ninh năng lượng không thể chỉ dựa vào năng lực sản xuất hay điều hành giá, mà cần một hệ thống dự trữ đủ lớn để tạo “vùng đệm” cho nền kinh tế.

Trong bối cảnh thế giới ngày càng bất ổn, dự trữ không chỉ là yếu tố kỹ thuật, mà trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp, ổn định thị trường khi cần thiết. Xét ở góc độ rộng hơn, ổn định nguồn cung và giá nhiên liệu là điều kiện tiên quyết để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Biến động năng lượng không chỉ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất mà còn tác động trực tiếp đến lạm phát, tiêu dùng và niềm tin thị trường.

Đặt trong bức tranh đó, chỉ đạo “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn” trong Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị không chỉ là một định hướng hợp lý, mà là một phản ứng chính sách đúng thời điểm.

Khi chuỗi cung ứng năng lượng của Việt Nam gắn chặt với thị trường toàn cầu và dễ bị tác động bởi các biến động địa chính trị, việc chuyển từ tư duy “đảm bảo có nguồn” sang “chủ động tích lũy dự trữ và thiết kế lại hệ thống cung ứng” là bước đi mang tính căn bản. Trong một thế giới mà các cú sốc năng lượng ngày càng khó lường, từ Covid-19 đến xung đột Nga – Ukraine và những bất ổn mới tại Trung Đông, việc chủ động xây dựng một hệ thống dự trữ đủ dày sẽ giúp nền kinh tế không còn bị động trước những biến động bên ngoài.

Và đến đây, câu chuyện không còn là xăng dầu nữa. Đó là cách Việt Nam nâng cao năng lực chống chịu, để mỗi biến động từ bên ngoài không còn là một cú sốc, mà trở thành một thử thách có thể kiểm soát.

Đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng

Một trong những nội dung đáng chú ý trong chỉ đạo tại Kết luận số 14-KL/TW lần này là việc nhấn mạnh yêu cầu tiết kiệm năng lượng như một giải pháp quan trọng để bảo đảm ổn định nguồn cung và giảm áp lực giá. Theo đó, Kết luận 14 nêu rõ “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô…”.

Trong bối cảnh thị trường nguyên, nhiên liệu thế giới biến động nhanh, khó dự báo, việc khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng trở thành một giải pháp kinh tế có ý nghĩa điều tiết vĩ mô. Ở đó, mỗi hành vi tiêu dùng hợp lý của người dân và doanh nghiệp chính là “van điều tiết mềm”, góp phần làm dịu áp lực cung - cầu, hạn chế biến động giá và giữ ổn định nền tảng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc giữ ổn định nguồn cung trong nước không thể chỉ dựa vào nỗ lực của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp, mà cần có sự tham gia điều chỉnh từ phía cầu, chính là từ chính hành vi tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp.

Thực tiễn cho thấy, mỗi khi xuất hiện thông tin về khả năng gián đoạn nguồn cung hoặc xu hướng tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện, nguyên liệu sản xuất, thị trường thường phản ứng theo hướng gia tăng mua vào, tích trữ vượt nhu cầu thực. Chính phản ứng mang tính tâm lý này đã tạo ra một “cầu ảo”, làm méo mó quan hệ cung - cầu, đẩy giá cả tăng nhanh hơn so với biến động thực của chi phí đầu vào. Khi đó, thị trường không còn vận hành theo quy luật kinh tế thuần túy, mà bị chi phối bởi kỳ vọng và tâm lý đám đông, dẫn đến nguy cơ hình thành vòng xoáy tăng giá mang tính dây chuyền.

Yêu cầu “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng” theo tinh thần Kết luận 14 chính là giải pháp nhằm “hạ nhiệt” thị trường từ gốc. Khi tiêu dùng được điều chỉnh theo hướng hợp lý, loại bỏ các yếu tố tích trữ, đầu cơ, cầu thị trường sẽ trở về trạng thái thực chất, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động cân đối nguồn cung, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định.

Ý nghĩa của chỉ đạo này càng trở nên rõ nét khi đặt trong mối quan hệ với hoạt động của doanh nghiệp. Biến động tăng giá nguyên, nhiên liệu luôn là một trong những yếu tố đầu vào có sức chi phối lớn nhất đối với chi phí sản xuất. Khi giá cả tăng đột biến do cầu bị đẩy lên bất thường, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nguy cơ thu hẹp biên lợi nhuận, gián đoạn kế hoạch sản xuất, thậm chí mất khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, tiết kiệm tiêu dùng không chỉ là trách nhiệm đối với nền kinh tế, mà còn là cách thức bảo vệ lợi ích thiết thân của mỗi cá nhân, hộ gia đình.

Có thể khẳng định, yêu cầu “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng” trong Kết luận 14 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ hướng tiếp cận đúng đắn, toàn diện và mang tính chiến lược trong điều hành kinh tế. Khi mỗi chủ thể trong nền kinh tế, từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp đến người dân cùng điều chỉnh hành vi theo hướng hợp lý, thị trường sẽ được vận hành trên nền tảng ổn định, nguồn cung được bảo đảm, giá cả được kiểm soát, qua đó góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống.

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: