Kết luận số 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung năng lượng: Phối hợp đồng bộ chính sách để “giữ nhịp” thị trường

Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung và giá nhiên liệu trong tình hình mới mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng; không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát biến động giá xăng dầu trước mắt, mà còn thể hiện bước chuyển mang tính chiến lược trong tư duy quản lý năng lượng. Kết luận 14-KL/TW đặt nền tảng cho cách tiếp cận dài hạn bằng tư duy mới, kết hợp linh hoạt chính sách để giữ ổn định nguồn cung và giá nhiên liệu.

Từ phản ứng nhanh đến chủ động dài hạn

Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới. Trong đó, chỉ đạo “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn” được xem là tín hiệu chính sách rõ ràng, cho thấy Trung ương đã nhận diện sớm các rủi ro đang hiện hữu và có thể gia tăng trong thời gian tới.

10.1.jpg

Một trong những nội dung cốt lõi được nhấn mạnh trong Kết luận 14 là bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong mọi tình huống, không để đứt gãy chuỗi cung ứng. Bởi lẽ, an ninh xăng dầu không chỉ dừng ở việc cân đối tổng lượng, mà còn là năng lực duy trì liên tục toàn bộ chuỗi từ khai thác - chế biến - dự trữ - phân phối. Thực tế cho thấy, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện nay dựa trên hai trụ cột chính: sản xuất nội địa và nhập khẩu.

Thứ nhất, nguồn cung trong nước từ hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất đáp ứng khoảng 70–80% nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, mức độ tự chủ còn hạn chế khi các nhà máy này vẫn phải nhập khẩu đáng kể dầu thô và cấu tử đầu vào, đồng thời thường xuyên vận hành vượt công suất thiết kế để đáp ứng nhu cầu.

Thứ hai, khoảng 20–30% nhu cầu còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu thành phẩm. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khối lượng lớn dầu thô và LPG, cho thấy sự phụ thuộc không chỉ ở đầu ra mà còn ở cả đầu vào của chuỗi cung ứng.

Cấu trúc này giúp thị trường duy trì nguồn cung ổn định trong điều kiện bình thường, nhưng cũng khiến giá và nguồn cung trong nước nhạy cảm với biến động quốc tế, từ giá dầu, chi phí logistics đến rủi ro địa chính trị. Điều này cho thấy, khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, thị trường trong nước có thể xuất hiện tình trạng thiếu hụt cục bộ. Do đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao tính tự chủ và xây dựng chiến lược dự trữ dài hạn nhằm tăng sức chống chịu cho nền kinh tế.

Một vấn đề nữa cũng cần đặt ra, đó là khả năng dự trữ của xăng dầu thông thường đáp ứng 20 ngày. Còn nhớ, trong Quyết định số 861/QĐ-TTg về quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu và khí đốt quốc gia cho thấy, mục tiêu là xây dựng một hệ thống dự trữ đủ dày để nền kinh tế có thể đứng vững trước các cú sốc bên ngoài. Trọng tâm của quy hoạch là nâng tổng mức dự trữ dầu thô và sản phẩm xăng dầu lên khoảng 75–80 ngày nhập ròng, phấn đấu đạt 90 ngày. Dù hiện nay, năng lực sản xuất trong nước đã được cải thiện, mức độ tự chủ vẫn còn hạn chế do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và thị trường bên ngoài. Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới – nơi dự trữ năng lượng đạt khoảng 90 ngày và đóng vai trò như một công cụ điều tiết thị trường – Việt Nam vẫn ở trạng thái dễ bị tác động hơn trước những biến động khó lường từ bên ngoài.

tw-dat-dung-van-de-cua-an-ninh-nang-luong-379.jpg

Kết luận 14-KL/TW cũng yêu cầu sử dụng linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách. Không chỉ dừng ở điều hành giá, Kết luận còn đặt ra bài toán phối hợp giữa tài khóa, tiền tệ và các chính sách thương mại, quản lý thị trường. Việc điều chỉnh thuế, phí, hỗ trợ lãi suất hay bảo đảm nguồn ngoại tệ… nếu được triển khai đúng thời điểm sẽ giúp giảm áp lực chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, đồng thời hạn chế tác động lan tỏa đến lạm phát. Song song với đó, việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi găm hàng, đầu cơ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định thị trường. Trong bối cảnh tâm lý dễ bị tác động, kỷ cương thị trường chính là yếu tố giúp hạn chế các biến động mang tính “kỳ vọng”.

Theo các nhà chuyên môn, dù nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản được bảo đảm, nhưng mức độ tự chủ vẫn còn hạn chế. Nguồn cung phụ thuộc một phần vào nhập khẩu, trong khi hệ thống dự trữ còn mỏng, khiến thị trường dễ bị ảnh hưởng khi có biến động lớn từ bên ngoài. Những “bài học” trong giai đoạn dịch COVID-19 hay cú sốc năng lượng toàn cầu trước đây cho thấy, chỉ cần chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thị trường trong nước có thể nhanh chóng xuất hiện tình trạng căng thẳng cục bộ. Chính vì vậy, việc Kết luận 14-KL/TW yêu cầu bảo đảm nguồn cung không chỉ mang ý nghĩa điều hành trước mắt, mà còn là cảnh báo sớm về những rủi ro có thể lặp lại nếu không có giải pháp căn cơ.

Như đã đề cập ở trên, Kết luận yêu cầu “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn”. Đây là chỉ đạo mang tính chiến lược, vượt ra ngoài phạm vi điều hành ngắn hạn. Thông điệp ở đây khá rõ: An ninh năng lượng không thể chỉ dựa vào năng lực sản xuất hay điều hành giá, mà cần một hệ thống dự trữ đủ lớn để tạo “vùng đệm” cho nền kinh tế.

Trong bối cảnh thế giới ngày càng bất ổn, dự trữ không chỉ là yếu tố kỹ thuật, mà trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp, ổn định thị trường khi cần thiết. Xét ở góc độ rộng hơn, ổn định nguồn cung và giá nhiên liệu là điều kiện tiên quyết để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Biến động năng lượng không chỉ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất mà còn tác động trực tiếp đến lạm phát, tiêu dùng và niềm tin thị trường.

Đặt trong bức tranh đó, chỉ đạo “sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn” trong Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị không chỉ là một định hướng hợp lý, mà là một phản ứng chính sách đúng thời điểm.

Khi chuỗi cung ứng năng lượng của Việt Nam gắn chặt với thị trường toàn cầu và dễ bị tác động bởi các biến động địa chính trị, việc chuyển từ tư duy “đảm bảo có nguồn” sang “chủ động tích lũy dự trữ và thiết kế lại hệ thống cung ứng” là bước đi mang tính căn bản. Trong một thế giới mà các cú sốc năng lượng ngày càng khó lường, từ Covid-19 đến xung đột Nga – Ukraine và những bất ổn mới tại Trung Đông, việc chủ động xây dựng một hệ thống dự trữ đủ dày sẽ giúp nền kinh tế không còn bị động trước những biến động bên ngoài.

Và đến đây, câu chuyện không còn là xăng dầu nữa. Đó là cách Việt Nam nâng cao năng lực chống chịu, để mỗi biến động từ bên ngoài không còn là một cú sốc, mà trở thành một thử thách có thể kiểm soát.

Đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng

Một trong những nội dung đáng chú ý trong chỉ đạo tại Kết luận số 14-KL/TW lần này là việc nhấn mạnh yêu cầu tiết kiệm năng lượng như một giải pháp quan trọng để bảo đảm ổn định nguồn cung và giảm áp lực giá. Theo đó, Kết luận 14 nêu rõ “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô…”.

Trong bối cảnh thị trường nguyên, nhiên liệu thế giới biến động nhanh, khó dự báo, việc khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng trở thành một giải pháp kinh tế có ý nghĩa điều tiết vĩ mô. Ở đó, mỗi hành vi tiêu dùng hợp lý của người dân và doanh nghiệp chính là “van điều tiết mềm”, góp phần làm dịu áp lực cung - cầu, hạn chế biến động giá và giữ ổn định nền tảng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc giữ ổn định nguồn cung trong nước không thể chỉ dựa vào nỗ lực của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp, mà cần có sự tham gia điều chỉnh từ phía cầu, chính là từ chính hành vi tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp.

Thực tiễn cho thấy, mỗi khi xuất hiện thông tin về khả năng gián đoạn nguồn cung hoặc xu hướng tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện, nguyên liệu sản xuất, thị trường thường phản ứng theo hướng gia tăng mua vào, tích trữ vượt nhu cầu thực. Chính phản ứng mang tính tâm lý này đã tạo ra một “cầu ảo”, làm méo mó quan hệ cung - cầu, đẩy giá cả tăng nhanh hơn so với biến động thực của chi phí đầu vào. Khi đó, thị trường không còn vận hành theo quy luật kinh tế thuần túy, mà bị chi phối bởi kỳ vọng và tâm lý đám đông, dẫn đến nguy cơ hình thành vòng xoáy tăng giá mang tính dây chuyền.

Yêu cầu “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng” theo tinh thần Kết luận 14 chính là giải pháp nhằm “hạ nhiệt” thị trường từ gốc. Khi tiêu dùng được điều chỉnh theo hướng hợp lý, loại bỏ các yếu tố tích trữ, đầu cơ, cầu thị trường sẽ trở về trạng thái thực chất, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động cân đối nguồn cung, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định.

Ý nghĩa của chỉ đạo này càng trở nên rõ nét khi đặt trong mối quan hệ với hoạt động của doanh nghiệp. Biến động tăng giá nguyên, nhiên liệu luôn là một trong những yếu tố đầu vào có sức chi phối lớn nhất đối với chi phí sản xuất. Khi giá cả tăng đột biến do cầu bị đẩy lên bất thường, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nguy cơ thu hẹp biên lợi nhuận, gián đoạn kế hoạch sản xuất, thậm chí mất khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, tiết kiệm tiêu dùng không chỉ là trách nhiệm đối với nền kinh tế, mà còn là cách thức bảo vệ lợi ích thiết thân của mỗi cá nhân, hộ gia đình.

Có thể khẳng định, yêu cầu “khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng” trong Kết luận 14 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ hướng tiếp cận đúng đắn, toàn diện và mang tính chiến lược trong điều hành kinh tế. Khi mỗi chủ thể trong nền kinh tế, từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp đến người dân cùng điều chỉnh hành vi theo hướng hợp lý, thị trường sẽ được vận hành trên nền tảng ổn định, nguồn cung được bảo đảm, giá cả được kiểm soát, qua đó góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong mọi tình huống.

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: