Kỳ 2: Con nhím Điện Biên Phủ - Chiến thuật đặc biệt của kế hoạch Navarre

Tháng 5/1953, tướng Navarre trở thành Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và cho ra đời bản Kế hoạch mang tên chính vị tướng này, mà theo đánh giá của Lanien - Thủ tướng Pháp lúc bấy giờ là “chẳng những được Chính phủ Pháp mà cả những người bạn Mỹ cũng tán thành. Nó cho phép hy vọng đủ mọi điều”. Trong đó, “con nhím quân sự khổng lồ” tức Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - được coi là chiến thuật đặc biệt của Kế hoạch đầy tham vọng này.

Từ hành trình nhận diện vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào - Việt, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng. Điện Biên Phủ có một dạng địa hình khá đặc biệt, bốn bên là núi hoặc những quả đồi nối tiếp nhau. Ở giữa có một dải đất bằng phẳng giống như một thung lũng lọt thỏm giữa trùng điệp của núi non. Dải đất bằng phẳng đó được tô đậm bởi cánh đồng Mường Thanh rộng lớn.

Theo nhiều tài liệu, không phải chỉ đến cuối năm 1953, sau khi thất bại ở hầu khắp các chiến trường trong kế hoạch Nava nhằm bình ổn Việt Nam, Điện Biên Phủ mới được Pháp để mắt tới. Đối với đế quốc Pháp - Mỹ, Điện Biên Phủ luôn là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam châu Á.

Các đời Tướng Pháp tại Đông Dương đều đánh giá rất cao vị trí chiến lược của Ðiện Biên Phủ. Tướng René Cogny từng có ý định “xây dựng một căn cứ bộ ở Ðiện Biên Phủ”. Đặc biệt, tướng Raoul Salan - người tiền nhiệm của Navarre - có lẽ là tướng Pháp trăn trở nhất về vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ. Tướng Raoul Salan từng chỉ rõ sự cần thiết phải thiết lập ngay một trung tâm đề kháng tại Ðiện Biên Phủ để bảo vệ cho Luang Prabang và Thượng Lào. Tuy nhiên, thực tế đã không cho phép Salan thực hiện ý đồ đó. 

ky 2 con nhim dien bien phu chien thuat dac biet cua ke hoach navarre hinh 1

Là người kế nhiệm Salan, tướng Navarre không phải không quan tâm đến Ðiện Biên Phủ mà cái chính là trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, ông ta tập trung ưu tiên “tiến công ở phía Nam vĩ tuyến 18 và miền Trung Ðông Dương; đặc biệt là tìm cách giải quyết Liên khu 5, giữ thái độ phòng ngự chiến lược ở phía Bắc vĩ tuyến 18 và cố tránh tổng giao chiến ở đó”.

Tuy nhiên, trong thâm tâm, Navarre đã luôn có những trăn trở về việc thiết lập những căn cứ “lục - không quân hỗn hợp” hoặc những “căn cứ trận địa” để bảo vệ trực tiếp nước Lào nhưng chưa biết đặt căn cứ đó ở đâu. Mọi chuyện “chỉ thành hình hài” vào tháng 11/1953 khi Navarre phát hiện Ðại đoàn 316, sau đó thêm hai đại đoàn nữa là 308 và 312 hành quân lên Tây Bắc, và tướng Pháp này chợt nhớ lời của người tiền nhiệm Salan về thung lũng Điện Biên Phủ. Một quyết định đã được Navarre đưa ra.

Có thể thấy rõ về quyết định của tướng Pháp này trong bức điện mật ngày 20/11/1953 của Tổng chỉ huy Navarre gửi về Paris. Bức điện viết: “Đại đoàn 316 tiến lên Tây – Bắc đe dọa nghiêm trọng đồn binh Lai Châu và có nghĩa là trong một thời gian ngắn sẽ tiêu diệt lực lượng maquis (Chỉ lực lượng binh lính người Thái được tổ chức trong cái gọi là Binh đoàn không vận hỗn hợp) của ta tại vùng thượng du. Tôi đã quyết định có một hành động ở Điện Biên Phủ là căn cứ hành binh đã được dự định cả 316 mà nếu ta chiếm lại sẽ bảo đảm che chở được cho Luông Phabăng, nếu không làm như vậy, chỉ trong vài tuần nữa, Luông Phabăng sẽ bị nguy hiểm nghiêm trọng”. 

Cũng chính ngày 20/11 đó, Pháp chính thức nhảy dù, đánh chiếm Điện Biên Phủ. Việc tiến hành xây dựng Ðiện Biên Phủ trở thành lô cốt chiến lược của quân đội Pháp tại thung lũng lòng chảo cũng chính thức bắt đầu.

Tới sự ra đời của “Con nhím Điện Biên Phủ”

Chỉ sau 3 ngày từ 20 đến  22/11, sáu tiểu đoàn dù, khoảng 4.500 lính đã được ném xuống Điện Biên Phủ. Trong vòng 10 ngày (từ 23/11 đến 3/12/1953), quân đội Pháp đã thả hàng ngàn chiếc dù hàng với đủ loại vũ khí phương tiện cung cấp cho chiến trường Điện Biên Phủ. Những cuộn dây thép gai, phuy-ét xăng, đạn dược, thực phẩm những khối đạn pháo và phương tiện đủ loại được thả xuống Điện Biên Phủ.

Cùng với đó, ngay sau ngày 20/11, lính công binh thuộc đại đội lính dù công binh số 17 (17è CPG), với sự hỗ trợ của lính dù thuộc quyền chỉ huy của Bigeard bắt đầu san lấp mặt bằng khu vực sân bay. Để hỗ trợ nhiệm vụ này, ngày 21/11/1953, lần đầu tiên ở Đông Dương và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử quân đội Pháp, một máy ủi được một máy bay C119 thả dù xuống Điện Biên Phủ và sau đó một máy ủi thứ hai được thả dù xuống.

Đến ngày 25/11, đường băng đã sẵn sàng cho việc bắt đầu vận chuyển tiếp tế: Từ dây thép gai cho đến quân trang, từ túi đựng đất cho đến thiết bị làm bếp, chưa kể đến đạn dược các loại dành cho pháo binh cũng như các tiểu đoàn bộ binh. Ngày 25/11, chiếc Dakota đầu tiên đã hạ cánh xuống Điện Biên Phủ. Từ 20/11 đến 7/12/1953, không vận Pháp hoạt động hết công suất phục vụ cho việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: Trong 18 ngày, 1.760 tấn thiết bị các loại đã được chuyển đến đây, tức gần 100 tấn/ngày. Đầu tháng 12 năm 1953, những công trình hiện đại đã bắt đầu mọc lên ở thung lũng lòng chảo. De Castries được chỉ định làm chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm quan trọng này.

Trong việc xây dựng “con nhím Điện Biên Phủ”, sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế là hết sức quan trọng. Đến đầu tháng 3/1954, quân địch tập trung tại Điện Biên Phủ lên đến 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 đơn vị pháo binh, 3 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đơn vị xe vận tải với 200 xe, cùng một đơn vị không quân thuộc loại tinh nhuệ nhất ở Đông Dương.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung (Phân khu Trung tâm), Nam (Phân khu Isabelle) với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương. Trong 49 cứ điểm, mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự riêng biệt. Mỗi cụm cứ điểm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng, có chiến hào ngang dọc. Một số cứ điểm còn có hầm ngầm. Hàng rào dây thép gai bao quanh các cứ điểm dày từ 50 đến 200 mét. Ngoài ra còn có các bãi mìn dày đặc và hàng rào điện sát mặt đất.

Nhiều cứ điểm nằm sát cạnh nhau tạo thành cụm cứ điểm, bao gồm 8 cụm cứ điểm yểm trợ lẫn nhau theo kiểu “phòng ngự liên hoàn” với những “trung tâm đề kháng phức hợp”, có lực lượng cơ động và hỏa lực riêng, có hệ thống công sự vững chắc xung quanh có hàng rào dây thép gai dày đặc và có khả năng phòng ngự độc lập. Những cụm cứ điểm này được gọi theo thứ tự A, B, C... căn cứ vào thời gian hoàn thành việc xây dựng. 

Tám cụm cứ điểm này được tổ chức thành ba phân khu, mỗi phân khu đều có chức năng và nhiệm vụ riêng. Trong 3 phân khu, Phân khu trung tâm là phân khu quan trọng nhất lấy trận địa trung tâm nằm giữa thung lũng Mường Thanh, có cơ quan chỉ huy Tập đoàn cứ điểm GONO, trận địa pháo, kho hậu cần, sân bay, phía Đông phân khu có cả một hệ thống cao điểm rất lợi hại, giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ phân khu. Tại đây bố trí 6 trung tâm đề kháng, trong đó, trung tâm đề kháng Béatrice - Him Lam gồm 3 cứ điểm 1, 2, 3 có trách nhiệm bảo vệ từ xa cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, không nằm trong Phân khu Trung tâm nhưng vẫn do Phân khu Trung tâm trực tiếp chỉ huy.

Hỏa lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ có thể phối hợp yểm hộ cho tất cả các cứ điểm. Căn cứ thứ nhất ở Mường Thanh gồm một tiểu đoàn pháo 105mm, một đại đội pháo 155mm và 16 khẩu cối 120mm. Căn cứ thứ hai ở Hồng Cúm có một tiểu đoàn pháo 105mm. Hỏa lực của mỗi cứ điểm thường có: 4 khẩu súng đại liên, 40 đến 45 khẩu súng tiểu liên, 9 khẩu súng trung liên, 9 khẩu súng phóng lựu đạn, 2 khẩu súng cối 60mm và 1 khẩu pháo không giật 57mm. Ở những cứ điểm quan trọng, quân số được tăng thêm thì vũ khí cũng được tăng thêm tùy theo sự cần thiết. Đặc biệt còn có thêm vũ khí mới như súng phun lửa, các phương tiện chống đạn khói và súng hồng ngoại để bắn vào ban đêm mà không cần đèn.

Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - PC.GONO (Hầm De Castries) được đặt ở vị trí trung tâm lòng chảo Điện Biên Phủ, cách cứ điểm A1 về phía Tây chừng 500m theo đường chim bay; cách cầu Mường Thanh khoảng 300m về phía Tây Nam. Hầm được thiết kế và xây dựng bằng các vật liệu chắc chắn đủ sức chịu đựng sự công phá của các loại hỏa lực của đối phương.

Điều đáng nói là khi xây dựng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Navarre đã cho xây dựng 2 sân bay, sân bay chính là Mường Thanh và sân bay dự bị là Hồng Cúm. Mục đích của việc xây dựng 2 sân bay này là để nhận quân tăng viện của Pháp từ Hà Nội và một số cảng hàng không khác lên phục vụ cho chiến trường Điện Biên Phủ.

Theo đó, hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá trình tác chiến. Một cầu hàng không nối liền sân bay Điện Biên với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai được thiết lập hoạt động tấp nập từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Mức hoạt động của máy bay có khi lên đến 200 chuyến một ngày, mọi thứ đều phải nhờ máy bay chuyển đến tận nơi hoặc thả xuống pháo, đạn, thuốc men, dây thép gai, lương thực, thậm chí cả nước đá, rau tươi và nhiều thứ khác.

Với số quân đông, hoả lực mạnh, công sự vững chắc, thời điểm đó, Pháp, Mỹ đua nhau tâng bốc “tập đoàn cứ điểm vững chắc nhất Đông Nam Á” với những lời lẽ cao ngạo như: “Đây là một pháo đài bất khả xâm phạm”, “một tập đoàn cứ điểm đáng sợ”; “Là một chiến lũy vĩ đại Véc-đoong của Pháp (thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất) nay lại có mặt ở Đông Dương; “Sẽ giáng cho Việt Minh một trận thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ”, “Sẽ làm cho pháo binh Việt Minh câm họng...”, là “cỗ máy nghiền nát mọi cuộc tấn công của Việt Minh”…. 

Còn Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương - người từng có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử (1954) chia sẻ: “Ngày ấy, tôi mới 24 tuổi và không khỏi ngỡ ngàng khi tận mắt chứng kiến ‘con nhím quân sự khổng lồ’ (căn cứ Điện Biên Phủ) của thực dân Pháp; để rồi sau này, ta càng thấm thía hơn tinh thần, ý chí chiến đấu và sự hy sinh anh dũng của quân dân ta, làm nên chiến thắng gây chấn động địa cầu”.

Hà Anh

Xem thêm

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: