Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Từ “vận động” sang “kiến tạo”

Nhìn từ góc độ đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mang một ý nghĩa rộng hơn một chính sách đối với cộng đồng kiều bào. Đây là bước phát triển mới trong tư duy huy động sức mạnh toàn dân tộc, khi hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ được nhìn nhận rõ hơn như một bộ phận của sức mạnh quốc gia.

Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài “là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới; đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”.

Điểm đáng chú ý nằm ở hai chữ “trực tiếp”. Vấn đề không còn chỉ là làm sao để bà con hướng về quê hương, mà là làm sao để tri thức, vốn, công nghệ, kinh nghiệm và các mối quan hệ quốc tế gặp được những nhu cầu phát triển cụ thể của đất nước. Đây là bước chuyển từ vận động nguồn lực sang kiến tạo điều kiện để nguồn lực phát huy.

Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thay đổi sâu sắc, với tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng. Một cộng đồng như vậy không thể chỉ được nhìn như một “đối tượng vận động”.

Dĩ nhiên, công tác người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là huy động nguồn lực cho phát triển, mà còn là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo cộng đồng, giữ gìn bản sắc và tăng cường gắn kết với quê hương. Nhưng trong yêu cầu phát triển mới, việc nhìn nhận cộng đồng như một nguồn lực chiến lược mở ra một chiều kích đặc biệt quan trọng.

Tại cuộc gặp mặt báo chí, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Ngô Trịnh Hà cho biết, Nghị quyết thể hiện “bước phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài”. Cốt lõi của sự chuyển đổi đó là đưa công tác người Việt Nam ở nước ngoài “từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc”.

Đây cũng là yêu cầu mới đối với vai trò kiến tạo của Nhà nước. Có nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần; điều quyết định là phải có cơ chế để tiềm lực ấy gặp đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và tạo ra giá trị. Nghị quyết 23 vì vậy không đơn thuần đặt mục tiêu “thu hút kiều bào”, mà hướng tới khơi thông dòng chảy giữa nguồn lực toàn cầu của người Việt và nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Muốn vậy, thể chế phải đi trước một bước, với cơ chế, chính sách đồng bộ, đột phá để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả trí tuệ của chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đồng thời đặt vấn đề xây dựng mạng lưới, hệ sinh thái kết nối bền vững người Việt Nam trên toàn cầu.

2.png
Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam: Ảnh: AI.

Khi Nghị quyết bước ra từ văn bản

Chỉ ít ngày sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, chuyến thăm cấp Nhà nước Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã cho thấy khá rõ hình hài của tư duy mới ấy.

Chiều 10/8, gặp một số trí thức, nhà khoa học tiêu biểu thuộc Hội trí thức, chuyên gia người Việt Nam tại Australia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ lắng nghe những đề xuất dành cho cộng đồng mà đặt họ trước những bài toán phát triển cụ thể của đất nước.

Các đại biểu đề xuất những vấn đề sát với yêu cầu phát triển hiện nay của Việt Nam như thu hút nhân tài và dòng vốn quốc tế; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; đưa sản phẩm khoa học - công nghệ ra thị trường; bảo vệ sáng chế; phát huy nguồn lực giáo dục và đào tạo.

Những đề xuất ấy cho thấy giá trị của cộng đồng không chỉ nằm ở những gì có thể mang về nước, mà còn ở khả năng kết nối, chuyển giao và tạo ra giá trị từ nơi mình đang sống và làm việc. Đây chính là phần không gian cống hiến mà Nghị quyết 23 mở rộng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các trí thức, nhà khoa học tiếp tục đóng góp ý tưởng, kiến nghị giải quyết những bài toán lớn của đất nước; kết hợp kinh nghiệm với sự thấu hiểu thực tiễn Việt Nam để đóng góp chính sách, mô hình quản lý và công nghệ đột phá.

Đáng chú ý, các trí thức, nhà khoa học được đề nghị làm cầu nối chuyển giao công nghệ và phát triển “lực lượng sản xuất mới”, giới thiệu cho các cơ quan, viện nghiên cứu trong nước những đối tác có thế mạnh của Australia về giáo dục, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và khoáng sản chiến lược. Nhưng yêu cầu không dừng ở chuyển giao công nghệ hay sản phẩm, mà còn là lan tỏa tư duy làm khoa học, phương pháp đổi mới sáng tạo, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở trong nước.

Cách đặt vấn đề ấy cho thấy rõ hơn ý nghĩa của hai chữ “trực tiếp” trong Nghị quyết 23, điều quan trọng không phải khoảng cách địa lý, mà là khả năng biến tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và các mối quan hệ quốc tế thành giá trị cụ thể cho đất nước.

Mở rộng không gian cống hiến

Theo thông tin của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, phương thức huy động nguồn lực theo tinh thần Nghị quyết 23 sẽ hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ; kiều bào có thể tham gia đóng góp từ xa bằng những hình thức phù hợp và hiệu quả.

Đây là điểm có ý nghĩa lâu dài. Bởi nếu mỗi đóng góp chỉ là một sáng kiến riêng lẻ, sức mạnh sẽ bị phân tán; khi được nhận diện và kết nối trong một hệ sinh thái chung, từng đóng góp có thể bổ trợ cho nhau, tạo thành sức mạnh lớn hơn.

Nói cách khác, Nghị quyết 23 không chỉ mở rộng không gian cống hiến, mà đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng để không gian ấy vận hành: cơ sở dữ liệu, mạng lưới kết nối thực chất, đầu mối phối hợp rõ ràng và cơ chế chính sách đủ linh hoạt.

Nghị quyết 23 cũng đồng thời đặt yêu cầu kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường cơ chế phối hợp và nguồn lực. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được định hướng trở thành những “trung tâm kết nối nguồn lực Việt Nam tại địa bàn”, chủ động nắm bắt thế mạnh của chuyên gia, trí thức, doanh nhân, mạng lưới nghiên cứu, quỹ đầu tư và đối tác để kết nối với nhu cầu trong nước.

Đây là phần việc khó nhưng có ý nghĩa quyết định của Nhà nước. Thước đo của vai trò kiến tạo không nằm ở số lượng chính sách, mà ở việc chúng có làm giảm khoảng cách giữa người có năng lực và nơi cần năng lực hay không. Cơ sở dữ liệu phải dẫn tới kết nối; mạng lưới phải tạo ra hợp tác; cơ chế ưu đãi phải khiến người có năng lực muốn và có thể tham gia thuận lợi.

Từ góc nhìn đó, Nghị quyết 23 đang đặt lại cách nhìn về sức mạnh Việt Nam. Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài còn là một mạng lưới tri thức, vốn, công nghệ, kinh nghiệm và quan hệ quốc tế hiện diện tại nhiều trung tâm phát triển của thế giới. Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng giữ vai trò trung tâm, kết nối mạng lưới ấy với Việt Nam trở thành một phần của bài toán phát triển.

Giá trị lớn của Nghị quyết 23 vì thế không chỉ nằm ở việc mở thêm chính sách dành cho kiều bào, mà ở việc mở rộng cách Việt Nam nhìn nhận và tổ chức sức mạnh quốc gia. “Trở về” từ đây không nhất thiết phải được đo bằng khoảng cách địa lý. Một dự án, sáng kiến, công nghệ hay kết nối quốc tế tạo ra giá trị cho đất nước đều có thể là một cách trở về.

Khi Nhà nước chuyển từ tư duy vận động sang kiến tạo, từ chờ đợi sự trở về sang tạo dựng cơ chế để mỗi người Việt Nam có thể đóng góp từ nơi mình đang sống, biên giới địa lý sẽ không còn là giới hạn của sự cống hiến. Khi ấy, tình cảm hướng về quê hương không chỉ được chuyển hóa thành hành động, mà có thể trở thành một năng lực phát triển; và sức mạnh Việt Nam cũng được nối dài từ chính những nơi người Việt đang hiện diện trên toàn cầu.

Xem thêm

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Cỡ chữ bài viết: