Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Hiệu quả phục vụ Nhân dân – thước đo của một nền quản trị mới

81 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một trang sử mới của dân tộc, câu chuyện về Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân vẫn không ngừng được viết tiếp trong những yêu cầu mới của đất nước. Nếu năm 1945, nhiệm vụ lịch sử là xây dựng một chính quyền mới, đặt quyền lực nhà nước trên nền tảng Nhân dân và đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, thì hôm nay, trước những biến đổi sâu sắc của thời đại số, yêu cầu ấy đang được đặt ở một tầm cao khác, xây dựng năng lực quản trị quốc gia hiện đại, kiến tạo và hiệu quả. Đó không chỉ là câu chuyện của thể chế, bộ máy hay công nghệ, mà là cuộc đổi mới cách Nhà nước nhìn nhận, tổ chức và thực thi quyền lực, để cuối cùng mọi cải cách đều quy tụ về một điểm: phục vụ tốt hơn, tạo cơ hội phát triển tốt hơn và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Từ nền tảng ấy, một quan niệm về chính quyền mới đã được hình thành rất sớm và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ ít ngày sau Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã đặt trước chính quyền non trẻ những việc hết sức cụ thể: chống đói, chống dốt, tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng Hiến pháp, thực hiện các quyền tự do, chăm lo đời sống nhân dân. Đó là những việc tưởng như rất đời thường, nhưng phía sau là một nhận thức có ý nghĩa nền tảng: giá trị của chính quyền phải được chứng minh bằng những gì chính quyền làm cho dân.

Ngày 19/9/1945, trong bài “Chính phủ là công bộc của dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do hạnh phúc cho mọi người”. Người đồng thời nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Những lời căn dặn ấy được đưa ra khi Nhà nước mới chỉ vừa được thành lập, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, nhưng đã đặt ra một chuẩn mực lâu dài đối với quyền lực công: Quyền lực chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng vì lợi ích của Nhân dân.

4.jpg
Diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. Ảnh: T.L

Đó chính là mạch tư tưởng xuyên suốt từ những ngày đầu lập quốc đến quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ. Từ Hiến pháp năm 1946 đến các bản Hiến pháp sau này, nguyên tắc Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước ngày càng được thể chế hóa, hoàn thiện. Trong tiến trình đổi mới, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tư duy về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từng bước được định hình rõ hơn, trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng đất nước.

Từ Nhà nước của dân đến Nhà nước pháp quyền

Nhìn lại chặng đường 81 năm, có thể thấy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải là một sự chuyển hướng tách rời khỏi nền tảng được xác lập từ năm 1945, mà là một quá trình phát triển, hoàn thiện và thể chế hóa ngày càng đầy đủ hơn tư tưởng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nhà nước pháp quyền trước hết phải là Nhà nước thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước được tổ chức, phân công, phối hợp và kiểm soát; quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Nhưng pháp quyền, nếu chỉ được nhìn như hệ thống quy định và thiết chế, vẫn chưa đủ. Đích đến cuối cùng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam vẫn là bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tạo ra một trật tự trong đó pháp luật không chỉ được ban hành đầy đủ mà phải được thực thi nghiêm minh, công bằng và vì con người.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu “quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả”, đồng thời đặt yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, khoa học, trong sạch, công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đáng chú ý, nghị quyết không dừng ở yêu cầu làm cho bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, mà nhấn mạnh đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân.

Như vậy, từ “công bộc của dân” đến “quản trị quốc gia hiện đại” là một đường phát triển liên tục, trong đó điều không thay đổi chính là vị trí của Nhân dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Cái thay đổi là phương thức để thực hiện tốt hơn trách nhiệm ấy trong những điều kiện mới. Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cơ cấu xã hội ngày càng đa dạng, kinh tế số phát triển nhanh, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi phương thức sản xuất và đời sống, còn dữ liệu trở thành một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong một xã hội như vậy, cách Nhà nước xây dựng chính sách, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ công cũng cần phải thay đổi.

1.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Sẽ không có Nhà nước pháp quyền XHCN trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển KTXH. Ảnh: VGP.

Không chỉ quản lý tốt hơn, mà phải quản trị tốt hơn

Quản lý hành chính truyền thống thường chú trọng vào quy trình, thẩm quyền, hồ sơ và sự tuân thủ. Những yếu tố ấy vẫn cần thiết đối với một Nhà nước pháp quyền, bởi không có kỷ luật, kỷ cương và pháp luật thì không thể có quản trị quốc gia hiệu quả. Nhưng trong điều kiện phát triển mới, như thế vẫn chưa đủ. Một nền quản trị hiện đại phải hướng mạnh hơn vào kết quả, vào khả năng phản ứng trước những vấn đề mới, vào sự phối hợp giữa các cơ quan, vào năng lực sử dụng dữ liệu và công nghệ, đồng thời mở rộng khả năng để người dân và doanh nghiệp tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách.

Nói cách khác, vấn đề không phải là thay thế “quản lý” bằng một khái niệm thời thượng là “quản trị”, mà là làm cho phương thức quản lý nhà nước thích ứng với một xã hội đang thay đổi rất nhanh.

Trong một phát biểu tại Học viện Hành chính và Quản trị công ngày 28/2/2026, nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định:“Năng lực quản trị quốc gia đã trở thành một loại tài sản chiến lược, là sức mạnh mềm cốt lõi, quyết định khả năng bứt phá, vươn lên tự chủ chiến lược, khẳng định vị thế, sự phát triển của mỗi quốc gia”. Nhận định cho thấy quản trị quốc gia ngày nay không còn chỉ là câu chuyện nội bộ của bộ máy hành chính. Nó đã trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia, tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, chất lượng dịch vụ công, hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội và niềm tin của người dân.

Trong bối cảnh ấy, cuộc cách mạng hiện nay về tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng chính quyền số, kết nối dữ liệu và đổi mới phương thức điều hành cần được nhìn trong một chỉnh thể lớn hơn. Đó là quá trình tái thiết năng lực quản trị quốc gia để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Điều này cũng lý giải vì sao tinh gọn bộ máy không thể chỉ được đo bằng số lượng cơ quan giảm đi hay số lượng biên chế được cắt giảm. Tinh gọn phải đi cùng với phân định rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian, tăng năng lực thực thi và quan trọng hơn là làm cho quyết định được đưa ra gần thực tiễn hơn, được thực hiện nhanh hơn và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn.

Tương tự, chuyển đổi số cũng không thể chỉ được hiểu là đưa thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến. Nếu một quy trình rườm rà được số hóa mà bản chất không thay đổi, người dân có thể không phải cầm hồ sơ đến cơ quan nhà nước, nhưng vẫn phải trải qua một quy trình phức tạp. Quản trị số vì thế phải bắt đầu từ việc thiết kế lại quy trình, liên thông dữ liệu, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan và sử dụng công nghệ để Nhà nước chủ động phục vụ người dân thay vì buộc người dân liên tục chứng minh những thông tin mà Nhà nước đã có.

Đây là một thay đổi sâu hơn về tư duy, từ chỗ người dân tìm đến Nhà nước để giải quyết công việc, tiến tới một nền hành chính có khả năng chủ động nhận diện nhu cầu, cung cấp dịch vụ và giải quyết vấn đề của người dân.

Câu chuyện 81 năm trước và lời đáp của hôm nay

Trong bài viết “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” công bố tháng 10/2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có đoạn nhấn mạnh: “Sẽ không có Nhà nước pháp quyền XHCN trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển KTXH”.

Câu nói ấy đặt vấn đề về Nhà nước pháp quyền trở lại đúng nơi mà nó cần được kiểm nghiệm: Trong đời sống thực tế.

Một đạo luật tốt phải đi được vào cuộc sống. Một chính sách đúng phải tạo ra kết quả. Một bộ máy được tinh gọn phải hoạt động hiệu quả hơn. Một nền hành chính số phải giúp người dân giảm thời gian, chi phí và công sức. Một chính quyền kiến tạo phải tạo được môi trường để người dân và doanh nghiệp phát huy năng lực. Và cuối cùng, mọi cải cách phải được phản chiếu qua sự hài lòng, niềm tin và những lợi ích mà người dân thực sự nhận được.

Đó cũng là lý do đổi mới quản trị quốc gia hôm nay cần được nhìn như một bước phát triển mới của lời khẳng định đã được đặt ra từ ngày đầu lập nước, chứ không phải một câu chuyện thuần túy về công nghệ, tổ chức bộ máy hay cải cách hành chính.

3.jpg
Ảnh: T.L

81 năm trước, Nhà nước Việt Nam mới được sinh ra đã phải trả lời câu hỏi: Chính quyền mới sẽ làm gì cho dân? 81 năm sau, câu hỏi ấy vẫn còn nguyên giá trị, nhưng được đặt trong những điều kiện hoàn toàn mới: Làm thế nào để một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể quản trị một quốc gia hiện đại, một nền kinh tế số, một xã hội đang chuyển động nhanh và người dân ngày càng có nhiều kỳ vọng hơn vào chất lượng phục vụ của Nhà nước?

Câu trả lời không thể chỉ nằm trong một nghị quyết, một mô hình tổ chức hay một nền tảng công nghệ. Nó phải được thể hiện bằng một hệ thống thể chế tốt hơn, một bộ máy tinh gọn và có năng lực hơn, một đội ngũ cán bộ có trách nhiệm và năng lực thực thi, một phương thức điều hành dựa nhiều hơn vào dữ liệu, khoa học và công nghệ, cùng một cơ chế để người dân thực sự được tham gia, được giám sát và được thụ hưởng thành quả phát triển.

Từ Ba Đình năm 1945 đến những trung tâm phục vụ hành chính công, những nền tảng dữ liệu và chính quyền số hôm nay là một khoảng cách rất dài về thời gian, nhưng không phải là sự đứt gãy về mục tiêu. Từ “công bộc của dân” đến “quản trị quốc gia hiện đại”, điều được nối dài vẫn là trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân.

Và nếu coi đó là một cam kết lịch sử, thì đổi mới quản trị quốc gia chính là cách thế hệ hôm nay viết tiếp lời cam kết ấy bằng những kết quả cụ thể trong đời sống của mỗi người dân.

Xem thêm

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: