Đó cũng là điểm gặp nhau của nhiều nỗ lực cải cách đang diễn ra. Từ hoàn thiện thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền số đến đổi mới phương thức điều hành, tất cả cuối cùng phải trở về với con người. Bởi một bộ máy được tinh gọn nhưng người dân vẫn phải chờ đợi, một nền tảng số hiện đại nhưng người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, một chính sách đúng nhưng thực thi không đến nơi đến chốn thì những đổi mới ấy chưa thể nói là đã hoàn thành sứ mệnh.
Trong phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt vấn đề rất rõ: “Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp”.
Đây không chỉ là yêu cầu đối với một đạo luật. Ở tầm rộng hơn, đó là một cách nhìn về quản trị quốc gia: giá trị của chính sách nằm ở những thay đổi mà nó tạo ra trong cuộc sống, chứ không ở việc nó được ban hành như thế nào.
Từ một bộ máy tốt đến một đời sống tốt hơn
Hơn tám thập niên trước, khi đặt nền móng cho Nhà nước mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rất giản dị về vị trí của Chính phủ: “đều là công bộc của dân”, nghĩa là gánh việc chung cho dân, chứ không phải đứng trên dân.
Tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị, dù phương thức quản trị đã thay đổi rất xa. Ngày nay, “công bộc của dân” không chỉ thể hiện ở thái độ của một cán bộ khi tiếp dân, mà còn nằm trong cách một chính sách được thiết kế, dữ liệu được kết nối, thủ tục được cắt giảm, quyết định được giải trình hay dịch vụ công được cung cấp.
Nếu trước đây người dân cảm nhận về Nhà nước chủ yếu qua những lần tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, thì trong nền quản trị hiện đại, sự hiện diện của Nhà nước còn được cảm nhận qua những điều tưởng như vô hình: một thủ tục có thể làm từ xa, một khoản hỗ trợ đến đúng đối tượng, một thông tin được cung cấp kịp thời, một phản ánh được tiếp nhận và xử lý, hay một quyết định hành chính được đưa ra minh bạch, công bằng.
Vì lẽ đó, chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm thay đổi trải nghiệm của con người. Dữ liệu phải giúp Nhà nước hiểu xã hội tốt hơn và phục vụ người dân tốt hơn; công nghệ phải giúp người dân bớt một lần đi lại, bớt một bộ hồ sơ, bớt một cuộc chờ đợi.
Ngày 3/6/2026, chủ trì cuộc làm việc với Đảng ủy Công an Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án “Xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, hài hòa, phát triển”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản trị xã hội theo hướng hiện đại, “lấy dữ liệu, nền tảng công nghệ số làm công cụ quản trị, lấy người dân làm trung tâm”; đồng thời hướng tới những mục tiêu phản ánh trực tiếp chất lượng xã hội, chất lượng quản trị, mức độ an toàn, niềm tin, hạnh phúc và chất lượng sống của người dân.
Điều đáng chú ý ở đây là sự dịch chuyển của thước đo. Quản trị không còn chỉ được đánh giá bằng số lượng công việc đã hoàn thành hay bao nhiêu thủ tục đã được số hóa, mà phải nhìn vào kết quả cuối cùng đối với xã hội.
Khi sự hài lòng trở thành một chỉ dấu của phát triển
Có một thời gian, nói đến phát triển người ta thường nghĩ trước hết đến những con số về tăng trưởng, đầu tư, hạ tầng hay thu nhập. Những chỉ số ấy vẫn quan trọng, nhưng một quốc gia phát triển không thể chỉ được nhìn từ những con số trên báo cáo.
Phát triển phải đi vào căn nhà của mỗi gia đình, vào trường học của mỗi đứa trẻ, vào cơ hội việc làm của mỗi người lao động, vào sự an toàn của cộng đồng và cảm nhận của người dân về tương lai.
Trong một phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka nhân dịp chuyến thăm nước này vào tháng 5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP”. Theo ông, phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, cơ hội học tập của trẻ em, việc làm ổn định, sự an toàn của cộng đồng và niềm tin của Nhân dân.
Cách đặt vấn đề ấy mở rộng đáng kể ý nghĩa của đổi mới quản trị. Nhà nước không chỉ tạo ra những điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng, mà còn phải tổ chức các nguồn lực để thành quả phát triển được chuyển hóa thành những giá trị mà người dân có thể nhìn thấy và thụ hưởng.
Một con đường được mở rộng không chỉ có ý nghĩa vì nó đẹp hơn, mà vì người dân đi lại thuận lợi hơn. Một bệnh viện được đầu tư không chỉ vì có thêm trang thiết bị, mà vì người bệnh được chăm sóc tốt hơn. Một trường học được xây dựng không chỉ vì thêm một công trình, mà vì trẻ em có điều kiện học tập tốt hơn. Một thủ tục được số hóa không chỉ vì có thêm dịch vụ trực tuyến, mà vì người dân có thêm thời gian cho công việc và cuộc sống.
Đặt người dân ở cuối mỗi chuỗi chính sách cũng có nghĩa là nhìn nhận họ không chỉ với tư cách đối tượng thụ hưởng, mà là chủ thể tham gia vào quá trình quản trị. Người dân cần được biết, được góp ý, được giám sát và được đánh giá kết quả của những chính sách liên quan trực tiếp đến mình.
Tại một cuộc trao đổi về nâng cao hiệu quả quản trị công, bà Ramla Khalidi, khi đó là Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu để cải cách thể chế hiện nay và thời gian tới “mang lại lợi ích thiết thực cho mọi người dân Việt Nam”.
Như vậy, sự hài lòng không nên được hiểu đơn giản là một bảng câu hỏi sau khi người dân nhận kết quả thủ tục hành chính. Đó còn là cảm nhận về sự công bằng, minh bạch, thuận tiện; khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển; cảm giác được tôn trọng, lắng nghe và niềm tin rằng chính sách được ban hành thực sự hướng tới lợi ích chung.
Giá trị xuyên suốt 81 năm và một hành trình chưa kết thúc
Nhìn lại từ điểm xuất phát của Nhà nước Việt Nam cách đây 81 năm đến yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia hôm nay, có thể thấy những phương thức quản lý đã thay đổi rất nhiều, nhưng một giá trị vẫn xuyên suốt: Nhà nước được xây dựng để phục vụ Nhân dân, tổ chức và phát huy sức mạnh của toàn xã hội vì mục tiêu phát triển đất nước, vì cuộc sống của con người.
Từ tư tưởng “công bộc của dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; từ cải cách hành chính đến tinh gọn tổ chức bộ máy; từ quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ cung cấp dịch vụ công sang kiến tạo môi trường phát triển - đó là một quá trình vận động liên tục để phương thức Nhà nước thực hiện quyền lực ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của đất nước và cuộc sống của Nhân dân.
Đổi mới quản trị quốc gia bởi vậy không phải là một cuộc cải cách có điểm kết thúc. Mỗi khi xã hội xuất hiện một yêu cầu mới, Nhà nước phải có năng lực đáp ứng tốt hơn; mỗi khi công nghệ mở ra một cơ hội mới, quản trị phải đủ nhanh để nắm bắt; mỗi khi một chính sách bộc lộ bất cập, phải đủ thẳng thắn để điều chỉnh.
Đó cũng là cách hiểu đầy đủ hơn về một Nhà nước kiến tạo, Nhà nước phục vụ trong kỷ nguyên mới: không chỉ làm tốt những việc đang có, mà phải liên tục đổi mới để đáp ứng những yêu cầu đang thay đổi của xã hội; không chỉ quản lý hiện tại, mà còn tạo dựng năng lực cho tương lai.
Có lẽ, sau tất cả những khái niệm lớn về quản trị quốc gia, điều còn lại vẫn là những điều rất giản dị, khi đất nước phát triển hơn, xã hội tốt đẹp hơn và mỗi người dân có thêm cơ hội để sống, làm việc, học tập và vươn lên.
Đó chính là đích đến của đổi mới quản trị quốc gia. Và hành trình ấy vẫn đang tiếp tục - với một yêu cầu ngày càng rõ ràng, xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát thực tiễn và đủ năng lực kiến tạo không gian phát triển cho đất nước trong chặng đường mới.