Ba yếu tố ấy phải cùng chuyển động, bởi thể chế dù tiến bộ nhưng thực thi yếu sẽ khó đi vào cuộc sống; bộ máy dù được trao quyền nhưng thiếu dữ liệu và công cụ sẽ khó hành động hiệu quả; công nghệ dù hiện đại nhưng vận hành trên những quy trình cũ cũng không thể tạo ra một phương thức quản trị mới. Vì vậy, kiến tạo nền tảng cho quản trị quốc gia hiện đại thực chất là thiết kế lại cách Nhà nước tạo lập thể chế, tổ chức thực thi và tương tác với xã hội để tạo ra năng lực phát triển mới.
Thể chế không chỉ để quản lý, mà phải mở đường
Trong một nền quản trị hiện đại, thể chế không chỉ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự của những gì đang có, mà phải tạo không gian để những khả năng mới được hình thành và phát triển.
Đây cũng là yêu cầu nổi bật đặt ra trong hoạt động lập pháp thời gian qua. Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, nhiều dự án luật được xem xét, trong đó có những nội dung trực tiếp liên quan đến đầu tư, kinh doanh, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tổ chức bộ máy và đời sống người dân.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng văn bản được sửa đổi, mà ở yêu cầu ngày càng rõ hơn về chất lượng của thể chế: quy định phải xuất phát từ thực tiễn, tháo gỡ điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và mở thêm không gian cho các nguồn lực phát triển.
Đại biểu Quốc hội Tạ Văn Hạ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng: “Khi đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, điều quan trọng là phải xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan. Việc gì địa phương có thể quyết định thì cần trao quyền để địa phương chủ động xử lý, nhưng cùng với đó phải có cơ chế kiểm soát, giám sát và trách nhiệm giải trình phù hợp”.
Từ góc nhìn đó, cải cách thể chế không thể chỉ là “bỏ bớt” những quy định không còn phù hợp. Quan trọng hơn là phải kiến tạo được những quy định mới cho những lĩnh vực mới, những mô hình kinh doanh mới và những phương thức phát triển mà hệ thống pháp luật trước đây chưa dự liệu.
Sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ đang đặt ra yêu cầu đặc biệt đối với năng lực thích ứng của thể chế. Một công nghệ mới có thể xuất hiện chỉ trong thời gian ngắn; một mô hình kinh tế mới có thể hình thành trước khi pháp luật kịp điều chỉnh. Nếu mỗi thay đổi đều phải chờ một quy trình sửa đổi kéo dài, chính thể chế có thể trở thành điểm nghẽn của chính sự phát triển.
Vì vậy, yêu cầu cao hơn đối với thể chế không chỉ là đúng, chặt chẽ và đồng bộ, mà còn phải linh hoạt, thích ứng và có khả năng khuyến khích đổi mới. Nhà nước cần tạo ra những nguyên tắc đủ rõ để bảo đảm kỷ cương, nhưng đồng thời phải để lại khoảng không cần thiết cho sáng tạo.
Theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng): “Chất lượng thể chế cần được nhìn từ khả năng giải quyết những vấn đề thực tế. Một chính sách tốt không chỉ nằm ở việc quy định chặt chẽ đến đâu mà phải bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và khi thực hiện không tạo thêm những điểm nghẽn mới”.
Đây cũng là lý do việc sửa một đạo luật không thể tách rời việc rà soát những luật có liên quan. Một đạo luật có thể rất đầy đủ nhưng nếu người dân, doanh nghiệp vẫn phải đi qua quá nhiều tầng nấc, mất quá nhiều thời gian và chi phí để thực hiện quyền của mình thì mục tiêu cải cách chưa đạt được.
Trong quá trình đó, phân cấp, phân quyền là một nội dung then chốt. Nhưng phân quyền không thể được hiểu đơn giản là chuyển thêm việc xuống cấp dưới. Một địa phương chỉ có thể chủ động khi được trao đồng thời thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm.
Nếu giao nhiệm vụ nhưng không giao nguồn lực; giao quyền nhưng không làm rõ trách nhiệm; hoặc phân cấp nhưng quyết định vẫn phải đi qua quá nhiều tầng nấc, cải cách sẽ chỉ thay đổi hình thức mà chưa thay đổi bản chất.
Một nền quản trị hiện đại vì thế phải trả lời rõ những câu hỏi: Ai được quyết định? Quyết định đến đâu? Có đủ nguồn lực để thực hiện không? Và ai chịu trách nhiệm về kết quả? Đó chính là bước chuyển từ quản lý bằng thủ tục sang quản trị bằng mục tiêu, kết quả và trách nhiệm.
Trao quyền phải đi cùng năng lực thực thi
Thể chế chỉ mở đường khi có một bộ máy đủ năng lực bước qua cánh cửa ấy. Đây là vấn đề càng trở nên rõ hơn khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai. Việc giảm tầng nấc trung gian tạo điều kiện để quyết định đến gần cơ sở hơn, nhưng đồng thời đặt nhiều nhiệm vụ hơn lên cấp trực tiếp giải quyết công việc của người dân.
Khi đó, câu hỏi không chỉ là cấp xã được giao thêm bao nhiêu nhiệm vụ, mà là cấp xã có đủ người, đủ năng lực, đủ nguồn lực, đủ dữ liệu và công cụ để hoàn thành những nhiệm vụ ấy hay chưa. Trao quyền mà không nâng năng lực thực thi rất dễ chỉ chuyển điểm nghẽn từ cấp này sang cấp khác.
Đại biểu Tạ Văn Hạ cho rằng cùng với phân cấp, phân quyền cần xác định rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm soát quyền lực. Khi quyền hạn được trao xuống cơ sở, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình càng phải rõ để vừa tạo sự chủ động, vừa bảo đảm việc thực thi đúng quy định.
“Ở đây, yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ kết quả” không phải là khẩu hiệu mang tính hình thức. Nó phải trở thành nguyên tắc trong tổ chức công việc”, Đại biểu Quốc hội Tạ Văn Hạ chia sẻ quan điểm.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách nhìn về cán bộ, công chức. Một cán bộ được giao quyền phải biết rõ phạm vi quyết định của mình; nếu vượt thẩm quyền, phải có cơ chế phối hợp rõ; nếu quyết định không đạt kết quả, phải xác định được trách nhiệm; nhưng nếu dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và mang lại hiệu quả thì cũng cần được bảo vệ.
Đây là điều kiện quan trọng để khắc phục tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm - một lực cản không nhỏ đối với năng lực hành động của bộ máy.
Theo TS. Trịnh Thị Tú Anh, cải cách bộ máy cần hướng đến nâng cao năng lực hành động, chứ không chỉ giảm số lượng đầu mối. Khi trách nhiệm được gắn với kết quả đầu ra, mỗi cơ quan, mỗi cấp chính quyền sẽ phải chuyển mạnh hơn từ tư duy thực hiện đúng quy trình sang tư duy giải quyết công việc hiệu quả.
Điều này cũng đòi hỏi phải thay đổi cách đánh giá cán bộ và cơ quan hành chính. Không thể chỉ nhìn vào việc quy trình có được thực hiện đầy đủ hay không, mà phải nhìn vào kết quả: công việc có được giải quyết đúng hạn không, nguồn lực có được sử dụng hiệu quả không, người dân và doanh nghiệp có thực sự thuận lợi hơn không.
GS.TS Hoàng Văn Cường (Đại biểu Quốc hội các khóa XIV, XV) cho rằng, đổi mới mô hình phát triển phải gắn với tái cấu trúc quản trị quốc gia. Khi không gian phát triển được mở rộng, các nguồn lực được huy động mạnh hơn và công nghệ thay đổi nhanh hơn, bộ máy cũng phải chuyển từ cách quản lý phân mảnh sang phối hợp, điều hành theo mục tiêu và kết quả.
Bởi vậy, nguyên tắc “nhiệm vụ đến đâu, nguồn lực đến đó” cần được hiểu theo nghĩa rộng. Nguồn lực không chỉ là tiền, mà còn là con người, dữ liệu, hạ tầng, công cụ và quyền hạn.
Một bộ máy tinh gọn nhưng thiếu năng lực không phải là một bộ máy mạnh. Một bộ máy được trao quyền nhưng thiếu điều kiện thực thi cũng chưa phải là một bộ máy kiến tạo.
Công nghệ không chỉ số hóa công việc, mà phải làm lại cách quản trị
Nếu thể chế là “khung”, bộ máy là “người thực hiện” thì dữ liệu và công nghệ chính là hạ tầng mới giúp Nhà nước nâng cao năng lực quản trị.
Trong nền quản trị hiện đại, công nghệ số không nên chỉ được xem là công cụ giúp làm nhanh hơn những việc đang làm. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng thiết kế lại cách thức tổ chức công việc, ra quyết định và cung cấp dịch vụ công.
Một thủ tục hành chính được đưa lên môi trường số nhưng người dân vẫn phải kê khai lại những thông tin mà cơ quan Nhà nước đã có thì về bản chất mới chỉ là “số hóa thủ tục”, chưa phải chuyển đổi phương thức quản trị.
Giá trị thực sự của chuyển đổi số nằm ở khả năng kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu theo đúng quy định và loại bỏ những công đoạn không cần thiết. Khi đó, dữ liệu trở thành một hạ tầng mới của quản trị.
Cơ quan quản lý có thể dựa trên dữ liệu để nhận diện vấn đề, đánh giá chính sách và đưa ra quyết định. Chính quyền cơ sở có thêm thông tin để xử lý công việc. Người dân và doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào những khâu trung gian.
“Ở góc độ này, chuyển đổi số không chỉ giúp “nhanh hơn” mà còn có thể làm cho quản trị minh bạch hơn, có căn cứ hơn và dễ giám sát hơn”, GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.
Theo ông, dữ liệu và công nghệ cần trở thành một phần của hệ sinh thái quản trị mới. Khi dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả, Nhà nước có thể điều hành dựa nhiều hơn vào thông tin thực tế thay vì chỉ dựa vào báo cáo thủ công; đồng thời nâng cao chất lượng dự báo và ra quyết định.
Nhưng công nghệ không phải lời giải tự động cho mọi vấn đề. Một hệ thống số hiện đại nhưng dữ liệu không chính xác có thể khiến quyết định sai được đưa ra nhanh hơn. Một nền tảng được đầu tư lớn nhưng các cơ quan không chia sẻ dữ liệu vẫn không giải quyết được tình trạng phân mảnh. Và nếu đội ngũ không đủ năng lực sử dụng công nghệ, hệ thống dù hiện đại cũng khó phát huy hiệu quả.
Vì thế, xây dựng nền quản trị số phải đồng thời giải quyết ba vấn đề: hạ tầng công nghệ, chất lượng dữ liệu và năng lực con người.
Đặc biệt, phải tránh tình trạng “số hóa cái cũ”. Nếu vẫn giữ nguyên cách phân công, cách phê duyệt, cách phối hợp và cách yêu cầu người dân cung cấp thông tin như trước, việc đưa quy trình lên môi trường số có thể chỉ tạo ra một “bộ máy giấy tờ” dưới hình thức điện tử.
Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Dữ liệu càng trở thành nền tảng của quản trị thì trách nhiệm đối với dữ liệu càng phải rõ.
“Một nền quản trị hiện đại cũng cần tạo ra sự tương tác hai chiều. Người dân không chỉ là đối tượng được quản lý hay người sử dụng dịch vụ công, mà còn có thể cung cấp thông tin, phản hồi chính sách và tham gia giám sát hoạt động của bộ máy. Khi công nghệ tạo được những kênh tương tác như vậy, khoảng cách giữa chính quyền và người dân có thể được thu hẹp theo một cách rất thực chất”, GS.TS Hoàng Văn Cường nói.
Khi ba nền tảng cùng chuyển động
Thể chế, năng lực thực thi và công nghệ số không phải ba chương trình cải cách riêng biệt. Chúng là ba lớp nền của cùng một quá trình tái thiết quản trị quốc gia.
Thể chế tạo ra khuôn khổ và không gian hành động. Bộ máy biến khuôn khổ ấy thành chính sách và kết quả. Dữ liệu, công nghệ giúp bộ máy hành động nhanh hơn, chính xác hơn, minh bạch hơn và có khả năng dự báo tốt hơn.
Một thể chế tiến bộ nhưng bộ máy không đủ năng lực sẽ không tạo ra kết quả. Một bộ máy được trao quyền nhưng thiếu dữ liệu và công cụ sẽ khó ra quyết định chính xác. Một hệ thống công nghệ hiện đại nhưng vận hành trên những quy trình cũ, thiếu hành lang pháp lý và thiếu đội ngũ đủ năng lực thì cũng khó tạo ra thay đổi thực chất.
Vì vậy, điều quan trọng nhất của đổi mới quản trị quốc gia là không để các cuộc cải cách diễn ra theo những đường ray riêng biệt. Cải cách thể chế phải tính đến năng lực thực thi. Phân quyền phải tính đến nguồn lực và dữ liệu. Chuyển đổi số phải bắt đầu từ việc thiết kế lại quy trình. Và tất cả phải quy tụ về một mục tiêu: tạo ra năng lực phát triển mới cho đất nước.
Đại biểu Tạ Văn Hạ cho rằng, điều người dân và doanh nghiệp quan tâm không hẳn là bộ máy được sắp xếp bao nhiêu đầu mối hay có bao nhiêu quy định mới, mà là những thay đổi ấy có giúp cuộc sống thuận lợi hơn, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn hay không.
Đó cũng là điểm mà TS. Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh khi nói về yêu cầu đưa chính sách vào cuộc sống: Chất lượng của một chính sách phải được kiểm chứng qua thực tiễn, qua khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể và qua kết quả mà người dân, doanh nghiệp nhận được.
Bởi vậy, kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại không phải là xây dựng một bộ máy lớn hơn với nhiều công cụ quản lý hơn. Đó là quá trình làm cho thể chế thông thoáng hơn nhưng kỷ cương hơn; bộ máy gọn hơn nhưng có năng lực hơn; trao quyền mạnh hơn nhưng trách nhiệm rõ hơn; ứng dụng công nghệ sâu hơn nhưng quản trị phải gần con người hơn.
Và cuối cùng, mọi cải cách đều phải trở về với những câu hỏi rất cụ thể: Người dân có bớt đi một lần đi lại không? Doanh nghiệp có giảm được thời gian, chi phí không? Một quyết định có được đưa ra nhanh hơn không? Một nguồn lực có được giải phóng để đi vào sản xuất, kinh doanh không?
Nếu câu trả lời ngày càng rõ ràng và tích cực, khi ấy những nền tảng của quản trị hiện đại mới thực sự được hình thành.
Từ thể chế mở đường, bộ máy hành động đến dữ liệu dẫn dắt quyết định, đó không chỉ là ba nhiệm vụ cải cách. Đó là ba điều kiện để Nhà nước nâng cao năng lực kiến tạo phát triển và thực hiện tốt hơn trách nhiệm phục vụ Nhân dân trong một thời đại mà tốc độ thay đổi của xã hội đang nhanh hơn bao giờ hết.