Vừa qua, Cục Điện ảnh cũng đã ban hành văn bản số 1919/ĐA-VP về việc chấp hành quy định pháp luật trong phổ biến phim trên không gian mạng. Động thái được đưa ra trong bối cảnh hoạt động sản xuất, phát hành các nội dung được giới thiệu dưới dạng phim ngắn ngày càng sôi động trên các nền tảng trực tuyến, trong đó có những sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Khi sự tò mò bị biến thành công cụ giữ chân người xem
Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp việc làm phim trở nên nhanh và rẻ hơn bao giờ hết. Nhưng cùng với cơ hội sáng tạo, không ít phim ngắn AI được sản xuất hàng loạt đang dựa vào những tình tiết gây sốc, kích thích tò mò để giữ chân người xem, khiến vài phút giải trí dễ kéo dài thành nhiều giờ trước màn hình. Từ kịch bản, hình ảnh, nhân vật đến giọng nói, hầu hết các công đoạn làm phim hiện nay đều có thể thực hiện với sự hỗ trợ của AI. Khi thời gian và chi phí sản xuất giảm mạnh, số lượng phim ngắn trên môi trường số tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, không phải sản phẩm nào cũng được tạo ra để kể một câu chuyện có giá trị. Nhiều phim được xây dựng chủ yếu từ các tình tiết gây sốc và cảm xúc mạnh, với mục tiêu chính là khiến người xem không thể dừng lại.
Theo khảo sát của nhiều cơ quan truyền thông uy tín, thời gian qua, thị trường phim ngắn tại Việt Nam tăng rất nhanh. Riêng năm 2025, các khán giả của phim ngắn AI đã chi khoảng 11,5 triệu USD cho thể loại này. Trong quý I/2026, lượt cài đặt và số phiên truy cập để trở thành “tín đồ” của phim ngắn AI tiếp tục tăng mạnh. Lộ trình quen thuộc bắt đầu từ các đoạn phim miễn phí trên mạng xã hội, rồi lần theo ứng dụng để xem tiếp, sau đó trả tiền mở khóa từng tập. Đến đây, cái giá phải trả không chỉ là vài chục nghìn đồng mà có thể là giấc ngủ, thời gian học tập, công việc, vận động, đọc sách và những cuộc trò chuyện ngoài đời.
Không thể quy mọi hệ lụy của phim ngắn cho AI, khi công cụ này có thể giúp ngành công nghiệp điện ảnh, với chi phí cực thấp, thông qua hỗ trợ viết kịch bản, tạo nhân vật, tạo bối cảnh, dựng hình, lồng tiếng, dịch ngôn ngữ, kết hợp dùng thuật toán để đo phản ứng của người xem, rồi nhân bản những gì giữ chân họ lâu nhất. Nhưng kể từ đó, “nghệ thuật thứ 7” trên mạng đã sản sinh ra những tập phim dày đặc các mô-típ đánh vào cảm xúc tức thời: “nghèo thành giàu”, “báo thù”, “trùng sinh”, “xuyên không”… thay vì chứa đựng giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ thường thấy. Với hàng triệu nội dung nhàm chán, vô vị được sản xuất, nhân bản và phân phối mỗi ngày, không chỉ có thời gian, tiền bạc, sức khỏe tâm thần…của người xem chịu ảnh hưởng, mà ngay cả văn hóa, thị hiếu, cách ứng xử của công chúng mạng, đặc biệt là giới trẻ sẽ bị chi phối.
Nhà báo Trần Ngọc Long, Trưởng phòng Truyền thông - Đa phương tiện, Báo Điện tử VietnamPlus (TTXVN), cho rằng điều đáng chú ý của phim ngắn AI không chỉ nằm ở khả năng tạo nội dung nhanh và rẻ, mà ở việc AI kết hợp với cách các nền tảng phân phối nội dung. Khi những nội dung khiến người xem dừng lại lâu hơn liên tục được ghi nhận, sản xuất thêm và phân phối rộng hơn, phản ứng của người xem có thể tác động ngược trở lại quá trình sáng tạo. Theo nhà báo Long, điều này có thể khiến công chúng dần quen với những câu chuyện phải nhanh, liên tục có biến cố và tạo cảm xúc mạnh. Dù vậy, ông không đồng tình với cách nhìn cho rằng thị hiếu công chúng đang đi xuống.
“Tôi sẽ không gọi đây là “thị hiếu thấp kém”, bởi cách gọi ấy vô tình đổ trách nhiệm lên công chúng”, ông Long nói. Theo ông, khái niệm chính xác hơn là “khẩu vị được điều kiện hóa bởi thuật toán”. Ông cũng cho rằng không thể quy việc xem liên tục nhiều giờ chỉ cho sự thiếu ý thức tự kiểm soát. Khi nội dung tự động chuyển sang video tiếp theo, liên tục được đề xuất và xuất hiện trước mắt người dùng, việc dừng lại đòi hỏi họ phải chủ động hơn. Vì vậy, cần đặt câu hỏi không chỉ là tại sao người xem không tự dừng, mà còn là họ thực sự có bao nhiêu quyền chủ động trong một môi trường luôn khuyến khích xem tiếp.
Theo ông Long, trách nhiệm cần được nhìn từ nhiều phía. Người xem chịu trách nhiệm với hành vi của mình, nhà sản xuất chịu trách nhiệm về nội dung, nền tảng chịu trách nhiệm về cách phân phối và thiết kế trải nghiệm, còn cơ quan quản lý có trách nhiệm xây dựng những giới hạn cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, nhất là đối với trẻ em và nhóm dễ tổn thương.
“Quyền tự chủ của người dùng không chỉ là quyền được bấm “Stop”, mà còn là quyền không bị đặt trong một kiến trúc được tối ưu quá mức để khiến việc bấm “Stop” ngày càng khó khăn”, ông Long nhấn mạnh. Như vậy, việc chỉ khuyến cáo người dùng giảm thời gian sử dụng điện thoại là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là hình thành khả năng nhận biết và lựa chọn nội dung. Một bộ phim đáng xem không được đo bằng lượt xem hay khả năng khiến khán giả xem tiếp, mà bằng câu chuyện, nhân vật, cảm xúc và những suy nghĩ nó để lại.
Điều ông Long lo ngại nhất là trẻ em, thế hệ bắt đầu đời sống truyền thông bằng video ngắn. Theo ông, câu hỏi quan trọng không chỉ là trẻ thích xem gì, mà là trẻ học cách kỳ vọng một câu chuyện phải vận hành như thế nào. Vì thế, gia đình và nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen tiếp nhận nội dung có chọn lọc. Việc cùng trao đổi về những gì đang xem sẽ giúp người trẻ phân biệt đâu là câu chuyện có giá trị, đâu là nội dung chỉ dựa vào yếu tố gây sốc và kích thích tò mò.
Hậu kiểm phải theo kịp tốc độ phát hành
Trên thực tế, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ VHTTDL) đã có nhiều giải pháp để kiểm soát, ngăn chặn những phim ngắn, video ngắn độc hại. Theo Cục trưởng Lê Quang Tự Do, Cục đã phối hợp với các cơ quan liên quan để đề xuất giải pháp xử lý phim ngắn có nội dung độc hại trên cơ sở pháp luật hiện hành của Việt Nam, trong đó có Luật An ninh mạng. Các giải pháp tập trung vào tăng cường trách nhiệm kiểm soát nội dung của nền tảng và phối hợp liên ngành trong rà soát, chấn chỉnh hoạt động phổ biến phim ngắn.
Trước thực trạng phim chiếu mạng phát triển nhanh, trong đó có phim AI, ngày 25/9, Cục Điện ảnh ban hành Công văn số 1919/ĐA-VP, do Cục trưởng Đặng Trần Cường ký, về chấp hành quy định phổ biến phim trên không gian mạng, trong đó nêu tình trạng một số tổ chức, cá nhân chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ các điều kiện, thủ tục theo pháp luật về điện ảnh.
Công văn gửi tới các chủ thể phổ biến phim trên mạng và tổ chức, doanh nghiệp quản lý, vận hành nền tảng truyền thông số, nền tảng trung gian hoặc kho ứng dụng có cung cấp phim, ứng dụng phổ biến phim tại Việt Nam.
Cục Điện ảnh nêu rõ trước khi phổ biến, chủ thể phải bảo đảm điều kiện phân loại, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung và kết quả phân loại. Các điều kiện gồm có hội đồng, phần mềm kỹ thuật hoặc cơ chế phân loại theo quy định Việt Nam, phương án sửa đổi, cập nhật kết quả, phương án kỹ thuật và quy trình tạm dừng, gỡ bỏ phim theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Trường hợp chưa bảo đảm điều kiện, chủ thể phải đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan được Bộ ủy quyền phân loại đối với phim chưa có Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng. Công văn còn yêu cầu thông báo danh sách phim và kết quả phân loại qua Hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng trước khi phổ biến, hiển thị mức phân loại, cảnh báo, áp dụng biện pháp kỹ thuật bảo vệ trẻ em và để người dùng báo cáo phim vi phạm.
Như vậy, không thể mặc nhiên áp quy trình cấp phép phim chiếu rạp cho mọi phim mạng. Cơ chế tự phân loại gắn với hậu kiểm vẫn đặt ra những nghĩa vụ phải hoàn thành trước khi phát hành.
Bình luận về cơ chế này, luật sư Nguyễn Trọng Hoàng (Đoàn Luật sư Hà Nội) nhấn mạnh trách nhiệm của đơn vị phổ biến phim: “Điều cần làm rõ là ai chịu trách nhiệm về bản phim đã phát hành, phân loại dựa trên căn cứ nào và có thực hiện biện pháp bảo vệ trẻ em hay không. Hậu kiểm chỉ có sức nặng khi xác định được chủ thể chịu trách nhiệm và buộc họ khắc phục vi phạm”.
Luật sư Trọng Hoàng cho rằng trên cơ sở hệ thống dữ liệu đã có, có thể đề xuất bổ sung khả năng theo dõi phiên bản phát hành và lịch sử khắc phục. Khi phim bị sửa, đổi tên hoặc đăng lại, dữ liệu đối chiếu sẽ hỗ trợ truy trách nhiệm. “Kiểm tra nên ưu tiên dấu hiệu rủi ro như phản ánh có chứng cứ, nguy cơ đối với trẻ em hoặc hành vi tái phạm. Công cụ tự động hỗ trợ sàng lọc, quyết định xử lý cần căn cứ rõ ràng và cơ chế giải trình. Nhãn nhận diện AI cũng cần được phân biệt với phân loại độ tuổi: biết phim do máy tạo ra không đồng nghĩa phim phù hợp với mọi khán giả”, ông Hoàng phân tích.
Nền tảng cũng không thể đứng ngoài trách nhiệm quản lý nội dung phim được cung cấp trên hệ thống của mình, trong phạm vi nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Trước đó, khi những phim ngắn, web-drama đề tài “tổng tài” xuất hiện với mật độ dày đặc trên mạng xã hội với nhiều nội dung khác nhau, tại Họp báo thường kỳ quý III/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - ông Lê Quang Tự Do - cho biết nội dung phim ngắn trên mạng xã hội được xem xét, xử lý nội dung theo Nghị định 147. Tuy nhiên, rất khó để xác định thế nào là vi phạm pháp luật đối với loại phim này.
Cần tiêu chí cho cuộc chơi mới
AI đang làm thay đổi đáng kể cách sản xuất và phát hành phim ngắn, từ xây dựng ý tưởng, kịch bản, hình ảnh đến lồng tiếng, phụ đề và hậu kỳ. Khi thời gian và chi phí sản xuất được rút ngắn, việc làm phim trở nên dễ tiếp cận hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu rõ hơn về chất lượng, nội dung và vai trò của con người.
Quản lý phim AI còn đặt ra câu hỏi về năng lực tham gia thị trường. Một ê-kíp Việt có thể làm được phim, nhưng muốn duy trì sản xuất cần có quyền khai thác tác phẩm, đường phát hành và dữ liệu đủ rõ để tính toán doanh thu. Hỗ trợ công nghiệp văn hóa, theo các chuyên gia, cần đi vào những điều kiện cụ thể. Ví dụ có thể thí điểm chương trình tuyển chọn phim ngắn ứng dụng AI, đánh giá đồng thời kịch bản, phương án bản quyền và kế hoạch phát hành. Kết quả cần được đo bằng chất lượng tác phẩm, khả năng tiếp cận khán giả và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Chia sẻ với báo chí về “miếng bánh AI” với các nhà sản xuất Việt, nhà sản xuất Hoàng Bích Thủy cho biết: “Giảm chi phí làm phim chỉ giải quyết một phần bài toán. Nhà sáng tạo cần biết tác phẩm được khai thác thế nào, khoản nào bị khấu trừ và họ có quyền kiểm tra số liệu ra sao. Thiếu những điều đó, rất khó quyết định đầu tư tiếp”. Bà Thủy kiến nghị các hiệp hội nghề nghiệp có thể phối hợp xây dựng hợp đồng tham khảo, làm rõ quyền đối với kịch bản, hình ảnh, giọng nói và sản phẩm phái sinh. Điều khoản khai thác cần xác định phạm vi, thời hạn, thù lao; tránh một lần đồng ý sử dụng hình ảnh trở thành sự cho phép không giới hạn.
Phân tích sự thay đổi mà AI đang tạo ra đối với điện ảnh, TS Phạm Huy Quang, Hiệu trưởng Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM cho rằng, AI không nhất thiết là mối đe dọa đối với ngành. Nếu được sử dụng có kiểm soát, công nghệ có thể mở thêm không gian và năng lực sáng tạo cho người làm phim.
Từ góc độ đào tạo, Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM cũng bắt đầu đưa các học phần liên quan đến AI vào chương trình, giúp sinh viên hiểu và kiểm soát công nghệ thay vì để công nghệ thay thế quá trình sáng tạo của người làm phim.
Dù AI có thể tạo hình ảnh, chuyển động, bối cảnh và nhiều thành phần kỹ thuật, TS Phạm Huy Quang cho rằng yếu tố quyết định của điện ảnh vẫn là cảm xúc mà tác phẩm tạo ra cho người xem, ông nhấn mạnh, AI đặc biệt hữu ích trong việc hình dung ý tưởng, tạo bản demo hoặc xây dựng bản phân cảnh. Công nghệ có thể rút ngắn một số công đoạn, giúp người làm phim nhìn thấy trước bối cảnh, ánh sáng, chuyển động và hiệu ứng muốn thể hiện. Nhưng một bộ phim vẫn cần con người tham gia vào quá trình sáng tạo và tổ chức câu chuyện. Đây cũng là lý do AI có thể phù hợp hơn với một số dạng phim, trong đó có hoạt hình, trong khi phim tài liệu, phim truyện đặt ra những yêu cầu đặc thù về tính hiện thực và sự tôn trọng đời sống.