Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Tuy nhiên, việc tập trung một lượng lớn người trẻ đang có tâm lý bất ổn, thiếu sự kết nối với gia đình cũng đặt ra những nguy cơ về an toàn trên không gian mạng, khi đây có thể trở thành môi trường để các đối tượng xấu tiếp cận, tạo lòng tin và thao túng nạn nhân. Theo Thượng tá, Tiến sĩ tội phạm học Đào Trung Hiếu, điều đáng lo ngại ở những hội nhóm mang màu sắc tiêu cực không nằm ở tên gọi, mà ở khả năng cảm xúc tiêu cực được khuếch đại, hành vi lệch chuẩn bị bình thường hóa.

Sau chữ “ghét” là nhu cầu được lắng nghe

Những ngày đầu tháng 10, dư luận xã hội không khỏi xôn xao trước sự lan truyền chóng mặt của hội nhóm công khai mang tên “Con ghét bố mẹ” trên mạng xã hội, với quy mô nhanh chóng chạm mốc 400.000 thành viên. Nội dung chia sẻ tại đây chủ yếu xoay quanh những dòng trạng thái bức xúc, sự thất vọng và cảm giác lạc lõng của người trẻ khi đối diện với muôn hình vạn trạng mâu thuẫn thế hệ: từ áp lực điểm số, kỳ vọng nặng nề của cha mẹ, bất đồng trong sinh hoạt thường ngày, cho đến những tổn thương tâm lý âm ỉ chưa từng dám thổ lộ. Được biết nhóm “Con ghét bố mẹ” được thành lập vào ngày 17/1/2021 với dòng thông tin: “Vào đây tâm sự bày tỏ những nỗi buồn trong gia đình khi bạn ghét bố mẹ”.

Hồi tháng 4/2026, nhóm mới được ghi nhận ở quy mô hơn 2.100 thành viên. Sau 5 năm tồn tại, nhóm bất ngờ viral thời gian gần đây mà không rõ lý do, kéo theo lượng thành viên tăng nhanh. Đến 10h ngày 29/9, nhóm tiếp tục vượt mốc hơn 100.000 thành viên, cùng hơn 646 bài viết trong ngày. Và chỉ 1 tuần sau - ghi nhận vào trưa ngày 5/10, con số đã tăng gần gấp 4 lần với hơn 398 nghìn thành viên. Điều khiến nhiều người lớn giật mình có lẽ không chỉ là cái tên “con ghét bố mẹ”, mà là câu hỏi: Vì sao nhiều đứa trẻ cần tìm đến một không gian trên mạng để nói ra những điều chúng khó nói trong chính gia đình mình?

Đứng trước một cộng đồng ảo có quy mô lớn cùng cái tên mang tính kích thích mạnh, không ít bậc phụ huynh đã không khỏi bàng hoàng, tổn thương, thậm chí bức xúc trước điều mà họ nhìn nhận là sự bất kính của con cái. Thế nhưng, đằng sau những con số ấy, điều quan trọng cần suy ngẫm là sức hút của một không gian cho phép người trẻ giãi bày những góc khuất khó nói trong gia đình thực tại. Muốn hiểu hiện tượng ấy, cần nhìn thẳng vào cách xung đột hình thành, được bộc lộ và được người lớn đáp lại.

220e1bd3-acb3-4385-8f7f-73d5c7853745.jpg

PGS. TS. Chu Cẩm Thơ, Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam cho rằng, ở lứa tuổi học sinh, các em đang trong giai đoạn khẳng định cái tôi, hình thành nhân cách và rất khao khát được lắng nghe, công nhận. Khi không tìm được tiếng nói chung tại nhà, việc các em tìm đến không gian mạng để giãi bày là một cơ chế tự bảo vệ tâm lý, các em tìm kiếm sự đồng cảm.

Trong thời đại mà mạng xã hội trở nên quen thuộc, các em dễ dàng lập nhóm, tạo ra không gian để chia sẻ nhu cầu này. Không gian này ít nhất giúp các em thấy mình không đơn độc khi có những người bạn cùng cảnh ngộ động viên, chia sẻ. Đồng thời, do tính chất của mạng xã hội, các em dễ nhầm tưởng “nói với những người xa lạ dễ hơn”. Đây cũng là một rủi ro rất lớn, khi các em dễ rơi vào “vòng xoáy cảm xúc tiêu cực tập thể”, phóng đại mâu thuẫn hoặc nhận được những lời khuyên lệch lạc từ những người chưa đủ độ chín chắn.

“Sự tồn tại của hội nhóm này đến từ một nhu cầu tự nhiên và một thực thể của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu đúng việc các em tham gia nhóm này không có nghĩa là tất cả các em đều thực sự thù hận cha mẹ, các em tham gia nhóm là bày tỏ nỗi niềm của bản thân. Nhóm này tồn tại là một hiện tượng xã hội, những gì xảy ra ở đó cảnh tỉnh chúng ta về một sự thật, cần người lớn lắng nghe, tôn trọng sự tồn tại, có trách nhiệm điều chỉnh mối quan hệ với trẻ”, PGS. TS. Chu Cẩm Thơ nhấn mạnh.

Hiện tượng cần được nhìn nhận nghiêm túc nhưng phải tỉnh táo

Theo Thượng tá, Tiến sĩ Tội phạm học Đào Trung Hiếu, đây là hiện tượng cần được nhìn nhận nghiêm túc nhưng phải tỉnh táo. Không thể chỉ căn cứ vào tên gọi của một nhóm để mặc nhiên coi tất cả thành viên trong đó là người lệch chuẩn hoặc có nguy cơ vi phạm pháp luật. Điều cần quan tâm hơn là nội dung nào đang được chia sẻ, hành vi nào được khuyến khích và sau một thời gian tham gia, nhận thức của các thành viên có bị dịch chuyển theo hướng tiêu cực hay không. Phía sau một cái tên gây sốc có thể là nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có trẻ đang bị tổn thương hoặc mâu thuẫn với gia đình; có người tham gia vì tò mò; cũng có phụ huynh vào nhóm để tìm hiểu suy nghĩ của con cái. Điều khiến chuyên gia tội phạm học lo ngại hơn là khi những cảm xúc tiêu cực tìm thấy nhau trên không gian mạng, chúng có khả năng tự khuếch đại.

Theo Thượng tá Đào Trung Hiếu, một người đang tức giận với cha mẹ, thất vọng vì nợ nần hay bất mãn với cuộc sống, nếu đứng một mình, cảm xúc đó có thể chỉ mang tính nhất thời. Nhưng khi bước vào một cộng đồng có hàng nghìn người liên tục kể những câu chuyện tương tự, cùng nói rằng “tôi cũng vậy”, “nhà tôi cũng thế” hay “chẳng còn gì để mất”, người đó có thể dần cảm thấy suy nghĩ của mình không chỉ đúng mà còn rất phổ biến.

Ông Hiếu phân tích, trong tâm lý học xã hội, hiện tượng này có thể được lý giải qua cơ chế xác nhận xã hội và phân cực nhóm. Con người thường có xu hướng tin một quan điểm hơn khi thấy nhiều người xung quanh đồng tình. Khi những người có cùng tâm trạng liên tục tương tác, quan điểm ban đầu còn tương đối ôn hòa có thể dần dịch chuyển theo hướng cực đoan hơn. Cùng với đó là hiệu ứng “buồng vang”. Một người bất mãn kể câu chuyện của mình, những người có trải nghiệm tương tự hưởng ứng, trong khi thuật toán tiếp tục đưa tới họ các nội dung cùng chiều. Càng đọc nhiều những câu chuyện giống nhau, người dùng càng dễ tin rằng thế giới thực sự giống như những gì xuất hiện trong cộng đồng đó.

“Cảm xúc được lặp lại đủ nhiều có thể trở thành nhận thức; nhận thức được củng cố đủ lâu có thể trở thành thái độ; và trong những điều kiện nhất định, thái độ có thể chuyển thành hành vi”, Thượng tá Hiếu cho hay. Dưới góc độ tội phạm học, đây là điểm cần cảnh giác. Không phải cứ tham gia một hội nhóm tiêu cực thì một người sẽ phạm tội. Tuy nhiên, môi trường xã hội có thể làm thay đổi cách con người đánh giá một hành vi. Chẳng hạn, trong một cộng đồng “vỡ nợ muốn làm liều”, nếu những ý tưởng như lừa đảo, cướp tài sản, trốn nợ hoặc trả thù chủ nợ liên tục được nhắc tới với thái độ tán thưởng, những hành vi vốn bị xem là không thể chấp nhận có nguy cơ dần được bình thường hóa. Đối với người đang ở trạng thái khủng hoảng, khi rào cản đạo đức và tâm lý bị hạ thấp, khoảng cách từ ý nghĩ tới hành vi nguy hiểm có thể ngắn hơn.

Tương tự, một cộng đồng của những người từng chấp hành án phạt tù hoàn toàn có thể mang ý nghĩa tích cực nếu đó là nơi chia sẻ kinh nghiệm tái hòa nhập, tìm kiếm việc làm, giúp nhau tránh tái phạm. Nhưng cộng đồng đó sẽ trở nên đáng lo nếu biến thành nơi khoe “chiến tích”, tôn vinh quá khứ phạm pháp, kết nối những người có kinh nghiệm phạm tội hoặc trao đổi cách thức đối phó với pháp luật. “Vấn đề không nằm ở việc những con người giống nhau tìm thấy nhau, mà nằm ở chỗ sau khi tìm thấy nhau, họ cùng tạo ra chuẩn mực gì”, ông Hiếu nói.

Hiện tượng một hội nhóm tăng thành viên với tốc độ rất nhanh cũng đặt ra trách nhiệm đối với nhà trường, cơ quan quản lý và các nền tảng mạng xã hội. Cần có những giải pháp phù hợp để hạn chế nội dung kích động thù ghét, thao túng tâm lý hoặc dẫn dắt trẻ đến những hành vi nguy hiểm. Các trường học cũng cần có những kênh tư vấn tâm lý đủ gần gũi để học sinh biết rằng khi gặp vấn đề, các em có thể tìm đến một người lớn đáng tin cậy thay vì chỉ tìm kiếm sự trợ giúp từ những người xa lạ trên mạng.

Dưới góc nhìn của mình, bà Chu Cẩm Thơ cho rằng, trên không gian mạng sẽ xuất hiện những hội nhóm gây tác động tiêu cực, hoặc sẽ có những hành vi lợi dụng mạng xã hội để thao túng tâm lý, dẫn dắt những hành vi sai trái. Những nhóm như thế này lại rất thu hút các trẻ em, càng nguy hại cho trẻ em. Các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông cần phối hợp chặt chẽ với các nền tảng mạng xã hội để có giải pháp kỹ thuật, kiểm soát các nhóm mang nội dung kích động thù hận gia đình, đồng thời thúc đẩy các không gian tư vấn tâm lý học đường, chuyên gia gỡ rối miễn phí cho thanh thiếu niên.

Ranh giới pháp lý của các hội nhóm trên mạng

Luật sư Đàm Văn Hùng, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hồng Quân, cho biết cần phân biệt giữa tên gọi của một hội nhóm và những gì thực tế diễn ra bên trong nhóm. Pháp luật không mặc nhiên xử phạt chỉ vì một hội nhóm có tên gọi tiêu cực hoặc gây chú ý như “Con ghét bố mẹ”, “Hội trốn nợ”, “Hội bùng nợ”. Chỉ riêng tên gọi chưa đủ để xác định hội nhóm có vi phạm pháp luật hay không. Điều cần xem xét là mục đích thành lập, nội dung được đăng tải, chia sẻ, trao đổi và mức độ ảnh hưởng, hậu quả của những nội dung đó.

Nếu một hội nhóm chỉ chia sẻ câu chuyện cá nhân, tâm sự, trao đổi quan điểm hoặc thảo luận về những vấn đề của người dùng mà không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác thì không thể chỉ dựa vào tên gọi để quy kết vi phạm pháp luật.

Ngược lại, một hội nhóm có tên gọi bình thường nhưng bên trong đăng tải, chia sẻ thông tin cổ súy tệ nạn xã hội, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội hoặc cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác thì người thực hiện hành vi có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

nhan-dien-nguy-co-tu-cac-hoi-nhom-kin.png

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026, hành vi sử dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoặc cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy tệ nạn xã hội, phá hoại thuần phong, mỹ tục, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng.

Trường hợp hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị xem xét về Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự. Hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có thể bị xem xét về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự. Đối với các nội dung hướng dẫn trốn nợ, bùng nợ, việc xác định trách nhiệm hình sự cũng phải căn cứ vào hành vi cụ thể và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Do đó, không thể chỉ nhìn vào tên gọi để kết luận một hội nhóm có vi phạm pháp luật hay không. Đồng thời, cũng không thể lấy lý do “chỉ lập nhóm để mọi người giao lưu, chia sẻ” để loại trừ trách nhiệm khi bên trong nhóm thực tế phát sinh hành vi vi phạm pháp luật.

Quyền tự do biểu đạt và quyền trao đổi thông tin của người dùng vẫn được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này phải trong khuôn khổ pháp luật. Quyền tự do bày tỏ quan điểm không đồng nghĩa với việc người dùng được đăng tải mọi nội dung. Trước khi đăng tải hoặc chia sẻ thông tin, người dùng cần kiểm chứng nội dung và xem xét liệu thông tin đó có xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hay không.

Cũng theo luật sư Hùng, pháp luật hiện nay quy định trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia, sử dụng hoặc vận hành hội nhóm trên mạng xã hội. Không thể đánh đồng trách nhiệm của tất cả các chủ thể mà phải căn cứ vào vai trò, mức độ tham gia và hành vi thực tế của từng người để xác định trách nhiệm tương ứng. Trước hết, người trực tiếp đăng tải, chia sẻ nội dung vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo Nghị định 174/2026. Đối với quản trị viên, việc tạo hoặc quản lý một hội nhóm không đồng nghĩa với việc phải chịu trách nhiệm thay cho mọi hành vi của thành viên. Tuy nhiên, người quản lý, điều hành hoặc có khả năng chi phối hội, nhóm trên mạng xã hội nếu không triển khai các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc xóa thông tin có nội dung vi phạm pháp luật thì có thể bị xử phạt từ 10-20 triệu đồng theo Điều 12 Nghị định 330/2026.

Trường hợp quản trị viên trực tiếp tham gia, tổ chức, kích động hoặc tạo điều kiện cho hành vi vi phạm thì trách nhiệm được xem xét căn cứ vào hành vi và vai trò cụ thể của người đó. Nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật hình sự thì có thể xem xét trách nhiệm với vai trò đồng phạm.

Đối với thành viên của nhóm, việc tham gia nhóm, đọc nội dung hoặc trao đổi ý kiến hợp pháp không đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, nếu thành viên chủ động tạo, đăng tải, chia sẻ, phát tán hoặc hỗ trợ thực hiện nội dung, hành vi vi phạm thì có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi của mình.

Đối với nền tảng mạng xã hội, pháp luật về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, mạng xã hội cũng đặt ra các nghĩa vụ liên quan đến quản lý thông tin, tiếp nhận và xử lý yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, ngăn chặn và gỡ bỏ nội dung vi phạm theo quy định.

Như vậy, việc xử lý các hội nhóm trên mạng xã hội không chỉ dừng ở người trực tiếp đăng tải nội dung mà còn phải xem xét trách nhiệm của người quản lý nhóm và nền tảng mạng xã hội theo vai trò, nghĩa vụ và hành vi cụ thể của từng chủ thể.

Luật sư Hùng cho rằng người dùng cần chủ động tìm hiểu và tuân thủ các quy định pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Trước khi đăng tải hoặc chia sẻ bất kỳ nội dung nào, cần kiểm chứng thông tin và cân nhắc khả năng nội dung đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc vi phạm pháp luật. Đồng thời, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng cần được tăng cường để người dùng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong môi trường mạng.

Xem thêm

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Cỡ chữ bài viết: