Sửa đổi Luật Công nghệ cao: Cần hành lang pháp lý đủ mạnh để tạo đột phá về công nghệ

Bài toán đặt ra lúc này là: sửa Luật như thế nào để Luật không chỉ là công cụ “quản lý” đơn thuần mà phải là công cụ “kiến tạo” đột phá, mang tầm nhìn dài hạn, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh, đủ minh bạch, ổn định, hấp dẫn đối với các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao, từ đó tạo nên những đột phá về công nghệ, tạo bệ phóng vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

Cần thiết sửa đổi luật

Luật Công nghệ cao được Quốc hội ban hành từ năm 2008, là đạo luật đầu tiên và duy nhất điều chỉnh về công nghệ cao tại Việt Nam.
Tuy nhiên, đến nay sau 16 năm, nhiều quy định trong Luật đã trở nên lỗi thời, thiếu đồng bộ với pháp luật chuyên ngành, không thể thực hiện được hoặc không còn phù hợp với thực tiễn.

Luật đã được sửa đổi ở phạm vi hẹp tại các điều khoản nhỏ năm 2013 (liên quan đến ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp) và năm 2014 (điều chỉnh nội dung liên quan theo Luật Đầu tư), tuy nhiên chưa có lần sửa đổi nào mang tính tổng thể để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với bối cảnh pháp lý, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, sâu sắc và nếu không được điều chỉnh, bổ sung một cách căn bản, đây sẽ là rào cản thúc đẩy phát triển công nghệ cao trong nước.

Hơn thế, việc sửa đổi Luật là bước đi cần thiết để thể chế hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 10/8/2023 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Qua đó tạo hành lang pháp lý minh bạch, ổn định và hấp dẫn đối với các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao, giúp hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

minhoa4.jpg

Nhiều điểm mới về ưu đãi và phát triển đô thị công nghệ cao

Bố cục Dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi) gồm 6 chương và 27 điều, giảm 8 điều và có sự thay đổi về cấu trúc, hình thức so với Luật Công nghệ cao hiện hành. Dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi) bao gồm 6 nhóm chính sách. Chính sách 1: Hoàn thiện khái niệm và tiêu chí về Công nghệ cao; Chính sách 2: Thiết kế lại hệ thống các chính sách và đối tượng hưởng chính sách ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; Chính sách 3: Khuyến khích phát triển hệ sinh thái Công nghệ cao; Chính sách 4: Bổ sung quy định về các mô hình khu Công nghệ cao, đô thị Công nghệ cao; Chính sách 5: Bổ sung và hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước về Công nghệ cao, cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả; Chính sách 6: Bổ sung các quy định về yêu cầu chuyển đổi số toàn diện hoạt động Công nghệ cao.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, dự thảo Luật hoàn thiện khái niệm và tiêu chí về Công nghệ cao đảm bảo tính hiệu quả và cập nhật so với xu hướng công nghệ trên thế giới, phù hợp với bối cảnh, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Việt Nam.

Định nghĩa Công nghệ cao được sửa theo hướng nhấn mạnh tính đột phá, lan tỏa và vai trò nền tảng của các ngành sản xuất, dịch vụ hiện đại. Sản phẩm Công nghệ cao không chỉ là sản phẩm mà còn bao gồm dịch vụ được tạo ra từ Công nghệ cao.

Dự thảo cũng bổ sung một chương riêng về phát triển công nghệ chiến lược, quy định từ nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, thương mại hóa, chuyển giao đến thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao.

Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định về phát triển đô thị Công nghệ cao (tech city, smart tech zone) là nơi có khu Công nghệ cao làm hạt nhân, được quy hoạch, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, cơ chế quản trị hiện đại nhằm bảo đảm điều kiện sống, làm việc và sáng tạo hiện đại, bền vững để phát triển hệ sinh thái Công nghệ cao.

Cùng với đó, dự thảo quy định chuyển đổi số toàn diện hoạt động Công nghệ cao, bao gồm số hóa dữ liệu, hạ tầng, chính sách liên quan để vận hành trên nền tảng số và hệ thống quản trị thông minh.

Dự thảo cũng bổ sung các quy định khuyến khích doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tham gia đầu tư, nghiên cứu và thương mại hóa Công nghệ cao. Các viện nghiên cứu, trường đại học có hoạt động R&D sẽ được khuyến khích phát triển doanh nghiệp Công nghệ cao, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đặc biệt, Dự thảo xác định công nghệ không chỉ là lĩnh vực ưu đãi đầu tư mà còn là trụ cột chiến lược bảo đảm an ninh kinh tế, quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Luật cũng bổ sung khái niệm công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược, nhằm tập trung phát triển. Chính sách ưu đãi được thiết kế lại minh bạch, hiệu quả hơn, mở rộng cho doanh nghiệp trong nước và khởi nghiệp. Các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt, đi kèm cam kết chuyển giao để mang lại lợi ích thực chất cho quốc gia.

Dự thảo chia công nghệ cao thành ba lớp: công nghệ lõi (Việt Nam phải tự làm và nắm giữ), công nghệ chiến lược (bảo đảm tự chủ) và công nghệ cao (để phát triển đất nước).

Khung pháp lý tốt phải đi cùng nguồn lực và cơ chế điều phối

Thảo luận về dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đã nhấn mạnh tới quan điểm: khung pháp lý tốt phải đi cùng nguồn lực và cơ chế điều phối. Đơn cử như về nguồn lực tài chính cần chỉ rõ phân cấp/phân quyền, trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương để tránh trùng chéo, dàn trải, phải làm rõ cơ chế điều phối liên ngành, cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho công nghệ mới...

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải, cần làm rõ hơn nguồn lực thực hiện và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, cần quy định chỉ áp dụng các ưu đãi trong hoạt động sản xuất công nghệ cao trong thời gian doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí theo quy định. Đối với các dự án công nghệ cao tại vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo... nghiên cứu bổ sung chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ vay vốn lãi suất 0% cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng số, ưu tiên cấp đất cho khu công nghệ cao.

Liên quan nghiên cứu và phát triển công nghệ, cần bổ sung ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu công nghệ lõi, công nghệ mở, được tài trợ từ Quỹ phát triển KH&CN, đồng thời tránh chồng chéo với các quy định bố trí ngân sách trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Đoàn Cần Thơ) thì cho rằng, các tiêu chí hiện nay còn chung chung, cần bổ sung yếu tố định lượng, như số lượng bằng sáng chế, mức đóng góp giá trị gia tăng, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao tham gia… nhằm bảo đảm tính minh bạch, có thể đo lường và đánh giá. Đại biểu cũng đề nghị xây dựng danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư ngay trong Luật, làm căn cứ để xác định lĩnh vực cần khuyến khích, hỗ trợ hoặc ưu tiên chuyển giao công nghệ, thay vì chỉ chờ quy định chi tiết sau này của Chính phủ.

Trước đó, tại một số cuộc toạ đàm, hội thảo về dự thảo Luật, nhiều ý kiến cũng cho rằng, nhiều quy định về cơ chế ưu đãi và tiêu chí thành lập các khu công nghệ cao, đô thị công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn còn chung chung, chưa lượng hóa cụ thể, dễ tạo kẽ hở để lợi dụng chính sách. Theo đó, cần bổ sung quy định rõ ràng hơn, gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn đối với các dự án, doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án, doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài.

Một điểm nhiều ý kiến cũng nhấn mạnh khi góp ý cho dự thảo Luật Công nghệ cao sửa đổi rằng, muốn có luật tốt, tính khả thi cao, thì phải “chốt” được khái niệm, thuật ngữ một cách chính xác, rõ ràng và dễ hiểu. Nếu khái niệm chưa được phân định rạch ròi sẽ gây khó khăn trong quá trình thực thi.

Đặc biệt, làm rõ cơ chế góp vốn bằng công nghệ, cần khung định giá và trách nhiệm pháp lý rõ ràng để bảo đảm minh bạch cũng là một trong những nội dung được hết sức quan tâm. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà - Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh nhận xét, quy định về góp vốn bằng công nghệ là một trong những điểm mới trong Luật sửa đổi lần này, đây là một hướng giải quyết vấn đề đóng băng tài sản trí tuệ, thông qua việc góp vốn bằng bí quyết, bằng các giải pháp công nghệ mà người sở hữu đề xuất.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh rằng việc cho phép các bên tự xác định giá trị góp vốn công nghệ có thể dẫn tới rủi ro thổi phồng giá trị, tạo vốn ảo và gây méo mó môi trường đầu tư vì vậy, cơ quan soạn thảo phải làm rõ cơ chế định giá, khuyến khích sử dụng dịch vụ đánh giá độc lập để tránh lạm dụng. Còn đại biểu Nguyễn Văn Huy - Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên thì cho rằng quy định này là “rất rủi ro”, trái với nguyên tắc của Luật Doanh nghiệp và có thể tạo điều kiện cho hành vi thổi giá công nghệ, chuyển giá hoặc trốn thuế, cần sửa đổi theo hướng bắt buộc định giá thông qua thỏa thuận hoặc tổ chức định giá độc lập, thay vì để các bên tự xác định.

Rõ ràng, để có một Luật Công nghệ cao thực sự phù hợp, khả thi, không chỉ là tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, mà còn để nuôi dưỡng nguồn nhân lực công nghệ cao, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, sẽ còn rất nhiều điểm cần phải được xem xét thấu đáo và điều chỉnh kịp thời. Nhưng đó cũng là việc phải làm và làm ngay nếu muốn hiện thực hoá những mục tiêu phát triển lớn của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: