Áp dụng mô hình “chính quyền cảng”: Có đưa kinh tế biển lên vị trí số 1

Một mô hình quản lý và khai thác cảng biển kiểu “chính quyền cảng” (port authority) sẽ được áp dụng, nếu Quốc hội thông qua dự thảo Bộ luật Hàng hải (sửa đổi) tại kỳ họp tới. Trước đó, Bộ GTVT đề xuất Quốc hội quy định mô hình “Chính quyền cảng”..

(NB-CL) Một mô hình quản lý và khai thác cảng biển kiểu “chính quyền cảng” (port authority) sẽ được áp dụng, nếu Quốc hội thông qua dự thảo Bộ luật Hàng hải (sửa đổi) tại kỳ họp tới. Trước đó, Bộ GTVT đề xuất Quốc hội quy định mô hình “Chính quyền cảng” vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam để tạo đột phá trong đầu tư, kinh doanh và quản lý cảng. Tuy nhiên, UBTV QH đã đề nghị phải giải trình rõ thuật ngữ này.

Chính quyền cảng: Mô hình mới ưu việt

Đây là mô hình tiên tiến, hiện đại đảm bảo tính đồng bộ, tổng thể, thống nhất về quản lý phát triển hệ thống cảng biển tại Việt Nam. Xoay quanh mô hình mới này, ông Nguyễn Mạnh Ứng - Phó Tổng Giám đốc Portcoast cho biết mô hình Chính quyền cảng nhằm thống nhất quản lý các cảng trong khu vực, tránh tình trạng phát triển manh mún, tự phát, không đồng bộ. Chính quyền cảng không thay thế chính quyền địa phương, mà ngược lại trong Chính quyền cảng sẽ có nhân sự của chính quyền địa phương. Chính quyền cảng chỉ điều phối hoạt động kinh doanh cảng và các hoạt động liên quan. Chính từ những ưu điểm này mà xây dựng Chính quyền cảng trở thành lựa chọn tốt nhất hiện nay đối với sự phát triển của hệ thống cảng biển Việt Nam.

Theo Phó Tổng Giám đốc Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) - ông Nguyễn Xuân Kỳ, mô hình Chính quyền cảng đã hoạt động thành công tại nhiều nước trên thế giới và nó đã giúp chính quyền địa phương điều phối một cách hiệu quả hoạt động cảng biển. Mô hình hoạt động của Chính quyền cảng theo kiểu chủ cảng (Landlord Ports): Nhà nước sở hữu, đầu tư xây dựng cảng và các công trình hạ tầng phục vụ cảng (luồng hàng hải và hệ thống VTS, đường vào cảng,...); các công ty tư nhân đấu thầu khai thác quản lý cảng và đầu tư các công trình trên cảng.

Chỉ thành lập Chính quyền cảng ở những cảng lớn.
Chỉ thành lập Chính quyền cảng ở những cảng lớn.

Chính quyền cảng chịu trách nhiệm toàn bộ các yêu cầu về cơ sở hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật trong vùng cảng (trên bờ và dưới nước) bảo đảm cho hoạt động tiếp nhận tàu và vận chuyển hàng hóa; kết nối với mạng giao thông quốc gia và mạng hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm mọi vấn đề liên quan đến môi trường.

Ông Hồ Kim Lân, Tổng Thư ký Hiệp hội Cảng biển Việt Nam (VPA) cho biết điểm yếu của hệ thống cảng biển Việt Nam hiện nay là quy hoạch không đồng bộ, manh mún. Đặc biệt từ trước đến nay, việc quản lý cảng biển của Việt Nam khá khác biệt so với hầu hết các nước trên thế giới, dẫn đến hệ quả đầu tư, khai thác manh mún, vừa thừa vừa thiếu, gây lãng phí nhiều mặt. Để xóa bỏ thực trạng này, tiến tới điều phối một cách hiệu quả đồng bộ các dự án cơ sở hạ tầng cảng biển và mạng lưới hạ tầng kết nối với cảng, rất cần vai trò điều tiết của Nhà nước, thông qua cơ chế Chính quyền cảng mới có đủ tư cách và thẩm quyền giải quyết rốt ráo những bất cập trong phát triển cảng biển hiện nay. Theo đó cần có lộ trình cải tiến sang cơ chế Chính quyền cảng như thông lệ quốc tế, trong đó có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương và khối các doanh nghiệp cảng.

Phải tạo sự đột phá

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho rằng giao thông vận tải hàng hải của nước ta vẫn còn yếu so với yêu cầu của thực tế và tiềm năng của một quốc gia ven biển. Chính phủ đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực hiện chủ trương tái cơ cấu, cổ phần hóa, sắp xếp lại các doanh nghiệp, đổi mới công tác quản lý nhà nước về hàng hải nhưng chưa đủ đáp ứng yêu cầu phát huy vai trò của ngành vận tải hàng hải góp phần phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới. “Cần nghiên cứu, xác định nguyên nhân, lý do tại sao giao thông hàng hải nước ta chưa thể phát triển tương xứng so với tiềm năng, thế mạnh; phân tích, làm rõ hơn những bất cập, hạn chế về mặt thể chế của pháp luật hiện hành cần được tháo gỡ, nhằm tạo chuyển biến căn bản, đột phá cho ngành hàng hải nước ta phát triển tương xứng với vị trí, tiềm năng biển, biến nước ta trở thành “quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”, ông Phan Trung Lý nhấn mạnh.

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng cho biết, thứ hạng giao thông vận tải Việt Nam tăng dần theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), từ vị trí 90 năm 2012 lên 74/138 năm 2014. Nhưng thứ hạng đó cũng thể hiện hạ tầng của chúng ta còn thấp kém. Cũng theo đánh giá của WB, xếp hạng logictics Việt Nam tăng 5 bậc lên vị trí 48 vào năm 2014 và chỉ đứng trên 3 nước Lào (không có biển), Campuchia, Myanmar ở khu vực Đông Nam Á. “Ngành giao thông vận tải nung nấu khi sửa Bộ luật này là cơ hội tạo sự đột phá về thể chế chính sách để phát triển kinh tế biển. Theo chiến lược biển, đến 2020 dầu khí xếp vị trí thứ nhất về kinh tế, nhưng từ 2021, kinh tế hàng hải sẽ xếp đầu. Để làm được điều đó, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm và một trong những việc quan trọng là sửa được Bộ luật Hàng hải”, Bộ trưởng Đinh La Thăng nhấn mạnh.

Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến là quy định tại Điều 64b: Chính quyền cảng là tổ chức có chức năng đầu tư xây dựng và quản lý khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng; được thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi vùng đất, vùng nước được giao. Nhiều ý kiến trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng không nên dùng cụm từ “Chính quyền cảng” và nội dung thể hiện chưa rõ thuộc ai, cơ cấu thế nào, trong khi chức năng theo dự thảo là lớn.“Thể hiện từ ngữ, nội hàm phải thống nhất để không thể hiểu khác. Theo tôi, không nên dùng từ “chính quyền” vì nếu có sẽ dẫn đến “đẻ” ra một loạt “chính quyền” ở các khu công nghiệp, cảng hàng không”, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước nêu quan điểm.

Theo Bộ trưởng Đinh La Thăng đánh giá đây là điểm đột phá nhất trong các nội dung sẽ sửa đổi lần này. Chính quyền cảng không nằm trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương mà là tổ chức thống nhất sự phối hợp từ đầu tư, kinh doanh đến khai thác có hiệu quả cảng biển. Tuy nhiên, ban soạn thảo sẽ tiếp thu, dùng từ cho phù hợp để tránh gây hiểu nhầm. “Hầu hết các nước đều có mô hình tổ chức chính quyền cảng. Những tồn tại bất cập nhất của ta là tổ chức phối hợp đầu tư cảng ở những khu vực nhất định, dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả, tổ chức logicitics kém nên giá cao mà năng suất thấp. Chính vì vậy phải có mô hình tổ chức cho phù hợp để thống nhất được tất cả các lực lượng. Không phải cảng nào cũng có chính quyền cảng, mà chỉ tổ chức ở những cung cảng lớn như ở Hải Phòng”, Bộ trưởng Bộ GTVT nhấn mạnh.❏

Trước yêu cầu cấp thiết phải thành lập một tổ chức đầu não trong việc quản lý mọi hoạt động của các cảng, Chính phủ đã chấp thuận cho phép Cục Hàng hải Việt Nam triển khai thí điểm mô hình Chính quyền cảng. Cục Hàng hải đang nghiên cứu phương thức hoạt động của mô hình này một cách gấp rút và trước mắt sẽ nghiên cứu áp dụng thí điểm đối với cụm cảng Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) cùng hai cảng trọng điểm là cảng Lạch Huyện (Hải Phòng) và cảng Vân Phong (Khánh Hòa). Sau đó sẽ triển khai thí điểm rộng hơn ở một số cảng có điều kiện để từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thực hiện đồng bộ trên toàn quốc; tạo môi trường thông thoáng trong thu hút đầu tư phát triển và kinh doanh khai thác cảng biển. Đây có thể được xem như bước ngoặt quan trọng đưa cảng biển Việt Nam hội nhập sâu vào thông lệ ngành thương mại hàng hải thế giới, để cảng biển Việt Nam trở thành một trong những trung tâm cảng biển lớn không những của nước ta mà còn của các nước trong khu vực và thế giới, nhằm đưa đất nước trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển.

NGUYÊN HUY

ÔNG NGUYỄN NGỌC BẢO, ĐB QH TỈNH VĨNH PHÚC: Hiện nay, việc quản lý cảng biển chưa tốt, có những cơ chế rất chồng chéo, bất cập nhưng vai trò quản lý của Nhà nước đối với cảng biển chưa rõ. Trong khi chính quyền cảng là mô hình tiến bộ trên thế giới, nên tôi ủng hộ thành lập tổ chức này song có thể gọi là ban quản lý cảng.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  .

ÔNG NGUYỄN HẠNH PHÚC, CHỦ NHIỆM VĂN PHÒNG QUỐC HỘI: Tôi chưa rõ chỗ Ban quản lý khai thác cảng. Ta phải tách bạch quản lý nhà nước và hoạt động của doanh nghiệp. Tránh trường hợp "đá bóng thổi còi”. Theo ông Phúc vấn đề quy hoạch còn liên quan đến quản lý của chính quyền địa phương nên rất khó. Đề nghị Ban quản lý khai thác cảng chỉ làm chức năng của mình thôi, nếu làm cả đầu tư, quản lý thì chồng lên chức năng của Nhà nước. Đây là vai Nhà nước, anh là doanh nghiệp nhà nước mà làm thế thì cũng không được. Tốt nhất, để quản lý hiệu quả thì nên tách ra. Ban quản lý cảng chỉ khai thác, còn quản lý đầu tư thì phải do Nhà nước làm.

ÔNG NGUYỄN NHẬT, CỤC TRƯỞNG CỤC HÀNG HẢI VN: Mô hình Chính quyền cảng biển được nhiều nước đang áp dụng thành công. Điều này giúp cho trật tự cũng như luồng hàng được điều tiết một cách hợp lý hơn. Doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi rất nhiều với điều này. Các cụm cảng ở Việt Nam rất cần một chính quyền cảng để có thể tập hợp sức mạnh của các cảng, đồng thời phân bổ luồng hàng phù hợp chức năng của từng khu vực, từng cảng. Đặc biệt, các cảng sẽ có được mức phí, giá dịch vụ hợp lý, thống nhất để đủ sức cạnh tranh với cảng nước ngoài.

ÔNG ĐỖ XUÂN QUỲNH, TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI CHỦ TÀU VN: Cần hình thành cơ chế chính quyền cảng đi kèm khuyến khích hợp tác công tư, để thu hút đầu tư phát triển cảng lên quy mô lớn vùng miền có trọng điểm và hiệu quả.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      .

Chỉ thành lập “chính quyền cảng” ở cảng lớn như Hải Phòng

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng cho biết Chính quyền cảng nhằm giải quyết những tồn tại, bất cập hiện nay trong việc tổ chức phối hợp đầu tư cảng. Tuy nhiên, không phải ở đâu cũng có chính quyền cảng mà chỉ thành lập ở những cảng lớn như tại Hải Phòng.

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng

Bộ Giao thông - Vận tải, cho rằng, hầu hết các nước đều có mô hình tổ chức chính quyền cảng. Chính quyền cảng không nằm trong hệ thống chính quyền từ Trung ương tới địa phương mà tổ chức thống nhất về đầu tư kinh doanh, khai thác cảng biển có hiệu quả, vừa có có chức năng quản lý Nhà nước, vừa hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính quyền cảng sẽ đóng vai trò là “chủ đất”, trực tiếp đầu tư hoặc đứng ra kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cảng, hạ tầng cơ bản, sau đó cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài thuê để kinh doanh, khai thác.

Chính quyền cảng nhằm giải quyết những tồn tại, bất cập hiện nay trong việc tổ chức phối hợp đầu tư cảng, dẫn đến tình trạng giá thành cao, hiệu quả thấp. Tuy nhiên, không phải ở đâu cũng có chính quyền cảng mà chỉ thành lập ở những cảng lớn như tại Hải Phòng.

Trên thực tế, từ hai năm qua, Bộ GTVT đã kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập chính quyền cảng tại cảng Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng. Mô hình này là cơ quan Nhà nước đặc biệt, hoạt động theo mục đích công và lợi nhuận.

PV

“Chính quyền cảng” đưa kinh tế biển lên vị trí số 1

Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài, với phần lớn lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển, vận tải biển trở thành huyết mạch chính trong hệ thống lưu thông của nền kinh tế. Nằm ở vị trí có điều kiện tự nhiên thuận lợi, lại gần các tuyến đường hàng hải quốc tế là điều kiện tốt để Việt Nam phát triển cảng biển, đặc biệt là cảng nước sâu và cảng trung chuyển quốc tế. Đặc biệt để đưa nền kinh tế biển lên vị trí số một thì việc phát triển hệ thống cảng biển có vai trò hết sức quan trọng. Qua nghiên cứu thực tế các mô hình tổ chức quản lý cảng biển của các nước trên thế giới cho thấy mô hình Chính quyền cảng có nhiều ưu điểm và được đa số các nước phát triển áp dụng.

Theo mô hình này, Chính quyền cảng được quyền sở hữu toàn bộ vùng đất, vùng nước cảng biển và khu hậu cần sau cảng, chủ động phân kỳ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cầu bến cảng biển theo từng giai đoạn phù hợp với nhu cầu thông qua hàng hóa tại khu vực; tổ chức cho các thành phần kinh tế tư nhân thuê khai thác kết cấu hạ tầng cầu bến cảng đồng thời thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước theo phân cấp. Để phù hợp với thể chế nhà nước hiện nay, Việt Nam cần tổ chức Ban quản lý khai thác cảng theo mô hình Chính quyền cảng có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Theo đó Ban quản lý khai thác cảng cần có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể. Đó là được giao quyền sử dụng vùng đất, vùng nước cảng biển và khu hậu cần sau cảng. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng bến cảng, cầu cảng theo từng giai đoạn trình Bộ GTVT phê duyệt. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng phát triển khu hậu cần sau cảng theo từng giai đoạn trình UBND tỉnh, thành phố nơi có cảng biển phê duyệt; Tổ chức đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng theo quy hoạch được duyệt. Ngoài ra cũng được quyền huy động các nguồn vốn hợp pháp trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng theo quy định của pháp luật. Tổ chức đấu thầu cho thuê khai thác hoặc các hình thức khai thác khác kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng và khu công nghiệp phụ trợ theo quy định của pháp luật. Ngoài ra cũng cần kiểm tra, giám sát việc xây dựng và khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng và khu công nghiệp phụ trợ theo quy hoạch và công năng được duyệt. Tổ chức khai thác cảng biển, khu hậu cần sau cảng trong vùng đất, vùng nước được giao; Tổ chức duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng cảng biển, khu hậu cần sau cảng và khu công nghiệp phụ trợ...

Việc áp dụng mô hình quản lý khai thác cảng như trên sẽ khắc phục được những bất cập, tồn tại hiện hữu, bảo đảm xây dựng và phát triển cảng biển theo đúng quy hoạch, định hướng chiến lược. Đặc biệt sẽ khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, cung vượt cầu; từ đó phát huy tối đa hiệu quả trong hoạt động khai thác cảng biển, khu đất sau cảng. Huy động được nguồn vốn tư nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cảng biển; Phát huy ưu thế và tính linh hoạt trong quản lý và khai thác cảng biển, đặc biệt từ thành phần tư nhân. Thu hồi được toàn bộ nguồn thu phí, lệ phí cảng biển và giá trị có được từ lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của cảng biển; Bảo đảm lựa chọn được nhà khai thác cảng có năng lực, hiệu quả với giá cho thuê tối ưu nhất.

Tuy nhiên, Chính quyền cảng trong giai đoạn trước mắt chỉ áp dụng tại các khu vực cảng biển trọng điểm quốc gia, bắt đầu được đầu tư xây dựng như Lạch Huyện - Hải Phòng, Vân Phong - Khánh Hòa, từng bước hoàn thiện và áp dụng đối với các cảng biển trọng điểm khác trong tương lai.

Việc xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại với mô hình và tổ chức quản lý cảng biển hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và điều kiện thực tế tại Việt Nam là cần thiết nhằm bảo đảm lưu thông hàng hoá, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.

TH.S VŨ THẾ QUANG

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: