Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Việt Nam (VN) được đánh giá là sở hữu nhiều lợi thế để trở thành những nguồn cung tín chỉ carbon quan trọng của thế giới. Ước tính đến năm 2050, Việt Nam có thể tạo ra khoảng 103 triệu tín chỉ carbon rừng, biển và nông nghiệp carbon thấp... Trên phạm vi toàn cầu, VN cùng với Indonesia, Brazil, Kenya và Ấn Độ là những quốc gia cung ứng tín chỉ quan trọng nhờ lợi thế lớn về rừng, đất đai và năng lượng tái tạo.

Bước đột phá đa mục tiêu

Ngày 29/6, sàn giao dịch carbon VN khai trương và chính thức vận hành. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại VN. Bước đi này còn góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế carbon thấp và tạo thêm công cụ thị trường hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

Hiện có khoảng 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đã vận hành thị trường carbon và thu được kết quả rõ rệt trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Vì thế, thông tin chính thức vận hành sàn giao dịch carbon VN nhận được nhiều sự quan tâm.

GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), nhận xét: Trong thời gian qua, VN đã chuẩn bị khá tốt về các cơ sở pháp lý để sàn giao dịch carbon ra đời. Đặc biệt là việc phân bổ hạn ngạch đối với các ngành và đến từng doanh nghiệp có phát thải lớn trong các lĩnh vực như nhiệt điện, sản xuất sắt thép, xi măng. “Từ cơ sở hạn ngạch được phân bổ, những doanh nghiệp nào phát thải nhiều phải mua thêm của những đơn vị phát thải thấp và có dư ra để bán. Và từ nhu cầu mua - bán này, sàn giao dịch carbon ra đời, hoạt động dựa trên nguyên tắc như các sàn giao dịch chứng khoán nên vấn đề vận hành tương đối đơn giản về mặt thủ tục”, GS Vinh giải thích.

6fdcc63c022147d9acb52f0368e2200e-19805.jpg

Theo GS Vinh, sàn này sẽ góp phần giải quyết vấn đề tài chính trong hành trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Một ý nghĩa quan trọng khác của sàn giao dịch carbon là tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải đầu tư mạnh cho đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng giảm thâm dụng tài nguyên, tiết kiệm nguyên - nhiên - vật liệu, từ đó giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường. “VN là nền kinh tế mở, phát triển dựa vào xuất khẩu, khi hàng hóa VN ngày càng xanh hơn và chiếm vị thế tốt hơn sẽ xâm nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà VN tham gia đều có những quy định liên quan rất sâu đến việc sản phẩm, hàng hóa phát thải thấp và truy xuất nguồn gốc carbon. Nếu chậm chuyển đổi, hàng hóa của VN có khả năng sẽ mất sức cạnh tranh. Quan trọng không kém là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sẽ không thể xem VN là nơi để đầu tư xả thải, từ đó chúng ta có thể thu hút các dòng vốn đầu tư xanh hơn, công nghệ cao, ông Vinh nhấn mạnh.

PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn - ICED (ĐH Quốc gia TP.HCM), cũng nhấn mạnh: Sàn giao dịch carbon ra đời là một bước tiến mới, quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và thực hiện cam kết Net zero của VN. Đây là lời giải cho một bài toán đa mục tiêu và lợi ích; tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm hàng hóa và nền kinh tế VN. Theo lộ trình tuân thủ bắt buộc mà VN cam kết với quốc tế, càng về sau số lượng doanh nghiệp tham gia càng lớn. Trong giai đoạn đầu và vận hành thử nghiệm, có khả năng nguồn cung tín chỉ sẽ cao hơn cầu và giá tín chỉ chưa cao; để kích hoạt thị trường vận hành tốt, Nhà nước có thể bỏ tiền ra mua vào để đầu tư, sau này bán lại.

Xu thế toàn cầu và vị thế mới của Việt Nam

Theo Báo cáo Tình trạng Thị trường Carbon 2026 của Liên minh Hành động Carbon Quốc tế (ICAP), các hệ thống giao dịch phát thải (ETS) đang trở thành “hạ tầng” chính sách khí hậu then chốt trên toàn cầu. Hiện có 41 hệ thống ETS đang vận hành, bao phủ 26% lượng phát thải và các nền kinh tế sở hữu ETS đang chiếm tới 63% GDP toàn cầu. Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt khi Việt Nam cùng với Nhật Bản và Ấn Độ dự kiến đưa hệ thống ETS quốc gia vào vận hành, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ của công cụ định giá carbon sang các nền kinh tế mới nổi quy mô lớn.

Việc tham gia thị trường carbon không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh. Nếu chần chừ, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với gánh nặng chi phí từ các hàng rào kỹ thuật xanh quốc tế và nguy cơ bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngược lại, thị trường carbon chính là “chìa khóa” để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và khai thác các nguồn tài chính xanh. Để hiện thực hóa thị trường này, Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, trọng tâm là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về Sàn giao dịch carbon trong nước và Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải thí điểm cho giai đoạn 2025-2026.

Trong giai đoạn thí điểm từ nay đến năm 2028, “tấm vé” đầu tiên tham gia thị trường đã được trao cho 110 cơ sở phát thải lớn thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT. Đây là những doanh nghiệp nòng cốt được phân bổ hạn ngạch phát thải dựa trên kết quả kiểm kê khí nhà kính, tạo tiền đề cho hoạt động giao dịch chính thức.

Theo PGS.TS Hoàng Văn Phụ, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Kinh tế và Phát triển, “thị trường tín chỉ carbon chính là công cụ kinh tế quyết định khả năng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu trong mô hình tăng trưởng xanh”. Bản chất của thị trường này là việc mua bán quyền phát thải khí CO₂ theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Cơ chế này giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải.

Cơ quan chức năng và các chuyên gia đều có chung nhận định VN đã chuẩn bị khá đầy đủ để vận hành sàn giao dịch carbon. Trong đó, đặc biệt là Quyết định số 263 vào tháng 2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025 - 2026. Trên cơ sở đó, Bộ NN-MT ban hành Thông tư số 11/2026, thực hiện phân bổ thí điểm hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho 110 cơ sở. Đồng thời quy định quản lý, vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, tạo hành lang cho việc quản lý và giao dịch hàng hóa trên sàn giao dịch. Bộ Tài chính thì đã ban hành Thông tư hướng dẫn về giám sát giao dịch trên sàn giao dịch carbon và chế độ báo cáo của Sở Giao dịch chứng khoán. Song song đó, Ủy ban Chứng khoán nhà nước đã hoàn thành việc lựa chọn ngân hàng thanh toán phục vụ hoạt động của sàn giao dịch carbon trong nước theo quy định tại Nghị định số 29/2026, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về năng lực tài chính, kỹ thuật và nghiệp vụ.

Nhìn lại, năm 2023, VN đã bán thành công 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng ở khu vực Bắc Trung bộ cho Ngân hàng Thế giới (WB), thu về số tiền 51,5 triệu USD. Theo Cục Lâm nghiệp (Bộ NN-MT), với 14,79 triệu ha rừng đạt tỷ lệ che phủ trên 42%, VN nằm trong nhóm 10 quốc gia có diện tích rừng tăng nhanh nhất thế giới. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển tín chỉ carbon rừng. Ngoài trụ cột này, ở tất cả các ngành nghề và lĩnh vực, nếu thực hiện tốt việc chuyển đổi đều có thể tạo ra tín chỉ carbon. Đây không chỉ là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hóa. Chẳng hạn như việc sản xuất lúa vốn tạo ra nhiều khí metan - một trong những nguyên nhân gây phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, VN đang đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình lúa chất lượng cao phát thải thấp bằng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ, bằng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Những bằng chứng này cho thấy tiềm năng rất lớn mà VN có thể tận dụng và khai thác. Ở quy mô doanh nghiệp, bước đầu đã có một số doanh nghiệp xây dựng quy trình sản xuất tuần hoàn và 100% không phát thải.

11-1751870608.png

VN được đánh giá là sở hữu nhiều lợi thế để trở thành những nguồn cung tín chỉ carbon quan trọng của thế giới. Ước tính đến năm 2050, VN có thể tạo ra khoảng 103 triệu tín chỉ carbon rừng, biển và nông nghiệp carbon thấp... Trên phạm vi toàn cầu, VN cùng với Indonesia, Brazil, Kenya và Ấn Độ là những quốc gia cung ứng tín chỉ quan trọng nhờ lợi thế lớn về rừng, đất đai và năng lượng tái tạo. Việc thiết lập một sàn giao dịch carbon nội địa hoạt động hiệu quả và kết nối với thế giới sẽ tạo ra nguồn thu lớn trong tương lai. Quy mô thị trường carbon toàn cầu vào năm 2030 có thể đạt giá trị khoảng 24 tỉ USD và còn tiếp tục tăng nhanh.

Sàn carbon mở ra “lớp tài sản” mới cho thị trường vốn

Việc Việt Nam chính thức vận hành Sàn giao dịch tín chỉ carbon mở ra khả năng hình thành một “lớp tài sản” mới trên thị trường vốn, tạo nền tảng để thu hút dòng vốn cho quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Khác với cổ phiếu phản ánh quyền sở hữu doanh nghiệp hay trái phiếu phản ánh quan hệ vay - cho vay, tín chỉ carbon được hình thành từ kết quả giảm phát thải. Giá trị của loại tài sản này không nằm ở tờ “tín chỉ”, mà ở quyền phát thải được thị trường thừa nhận và sẵn sàng chi trả. Khi lượng phát thải được lượng hóa thành hàng hóa có thể giao dịch, mục tiêu môi trường cũng được chuyển hóa thành tín hiệu giá của thị trường. Chính cơ chế đó tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh - không chỉ vì yêu cầu tuân thủ, mà còn vì lợi ích kinh tế.

Từ ngày 29/6/2026, Việt Nam chính thức vận hành Sàn giao dịch tín chỉ carbon. Dù mới ở giai đoạn đầu, sự kiện này được nhiều chuyên gia nhìn nhận như bước khởi đầu của một cấu phần mới của thị trường tài chính xanh, nơi yếu tố môi trường lần đầu tiên được kết nối trực tiếp với hoạt động phân bổ nguồn lực tài chính.

Theo ông Lê Ngọc Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV, nếu nhìn trong dài hạn, Việt Nam không chỉ vừa khai trương một sàn giao dịch đơn thuần mà đang đặt nền móng cho một kiến trúc tài chính hoàn toàn mới, đặt bài toán khí hậu vào trung tâm của nền kinh tế.

Nhận định này cũng xuất phát từ thực tế nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh là rất lớn. Ước tính của KPMG cho biết, để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD đầu tư khí hậu đến năm 2040, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Với quy mô đầu tư như vậy, ngân sách nhà nước khó có thể đáp ứng nếu thiếu vai trò của thị trường và khu vực tư nhân.

Ông Lâm nhận định: “Cơ chế trao đổi hạn ngạch phát thải tạo ra điều mà pháp lệnh hành chính không làm được: biến mục tiêu giảm phát thải thành lợi ích tài chính cụ thể... Doanh nghiệp phát thải vượt hạn ngạch phải mua thêm quyền phát thải, doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh có hàng hóa để bán. Đây là lực kéo thị trường - mạnh hơn bất kỳ chính sách nào”.

Điều đáng chú ý là cơ chế thị trường đã làm thay đổi cách nhìn về carbon. Nếu trước đây, phát thải chủ yếu được xem là yếu tố cần kiểm soát thì nay kết quả giảm phát thải đã có thể lượng hóa thành tín chỉ, được định giá và giao dịch như một loại tài sản. Khi tín chỉ carbon có giá và có thể giao dịch, mục tiêu giảm phát thải cũng bắt đầu được kết nối với quá trình phân bổ nguồn lực của thị trường vốn.

Nhìn ra thế giới, báo cáo State and Trends of Carbon Pricing 2026 của World Bank cho biết, hiện có 87 cơ chế định giá carbon đang được triển khai trên thế giới, bao phủ gần 30% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Chỉ riêng năm 2025, các cơ chế này đã tạo nguồn thu khoảng 107 tỷ USD, phản ánh vai trò ngày càng lớn của thị trường carbon trong việc huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh.

Từ đó, hệ thống ngân hàng sẽ có thêm nền tảng để tiếp cận nguồn vốn xanh với chi phí thấp từ ADB, IFC, World Bank...

Nếu các tác động trên phản ánh sự thay đổi về cấu trúc của thị trường vốn và dòng vốn đầu tư, kỳ vọng xa hơn lại nằm ở sự hình thành của một hệ sinh thái tài chính mới xung quanh thị trường carbon.

“Chúng tôi kỳ vọng thị trường carbon sẽ sớm trở nên sôi động để có thể mở rộng thêm dịch vụ như tài chính carbon, tài trợ bằng thỏa thuận mua lại tín chỉ carbon, token hóa tín chỉ carbon, cho vay cầm cố bằng tín chỉ carbon và dịch vụ tư vấn carbon...”, ông Lâm nói.

Sự xuất hiện của các dịch vụ này cho thấy giá trị của tín chỉ carbon không dừng ở việc được mua bán trên sàn. Khi trở thành tài sản bảo đảm, tài sản tài trợ hay nền tảng của các sản phẩm tài chính mới, tín chỉ carbon sẽ thực sự trở thành một cấu phần của hệ sinh thái thị trường vốn. Đó cũng là đặc điểm thường thấy của các thị trường tài sản trưởng thành trên thế giới.

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

(CLO) Một năm trước, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai trên phạm vi cả nước, cùng với quyết tâm tinh gọn tổ chức bộ máy là hàng loạt băn khoăn về những tác động trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc nhiều cán bộ, công chức, viên chức xin nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của dư luận. Có người coi đây là kết quả tất yếu của quá trình sàng lọc đội ngũ, cũng có người lo ngại bộ máy sẽ thiếu hụt những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm đúng vào thời điểm chính quyền cơ sở được giao nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn.

Cỡ chữ bài viết: