Chậm giải ngân vốn đầu tư công: Đã đến lúc cần một chế tài thật sự!

(NB&CL) Được xem là một trong 5 “mũi giáp công” cần đẩy mạnh nhằm phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng đến từ đầu tư công dường như vẫn dưới kỳ vọng...

Thúc đẩy giải ngân đầu tư công là một trong những nội dung lớn thu hút sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội tại phiên họp toàn thể ở hội trường thảo luận về kinh tế - xã hội của Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV. Được xem là một trong 5 “mũi giáp công” cần đẩy mạnh nhằm phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng đến từ đầu tư công dường như vẫn dưới kỳ vọng...

Câu chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”

Các đại biểu Quốc hội cho rằng, nguồn vốn đầu tư công được xem là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Vì vậy, thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có sự chỉ đạo quyết liệt để tăng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án được đầu tư từ nguồn vốn này để phục vụ tốt cho đời sống nhân dân và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, năm nào cũng vậy, chậm giải ngân vốn đầu tư công trở thành vấn đề trầm kha, cứ đến quý III hằng năm là vấn đề này tiếp tục được nêu ra và trở thành câu chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Empty

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Bình Phước) nhấn mạnh: “Tôi muốn đề cập tại sao biết rồi mà năm nào cũng cứ chậm, năm nào Thủ tướng cũng phải thân chinh chỉ đạo, trong khi đây là nhiệm vụ thường niên của các bộ, ngành và địa phương. Đến thời điểm này đã có ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này hay chủ yếu chỉ ra hầu hết các nguyên nhân khách quan, còn sự chủ quan thì rất ít”.

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, qua thực tế các địa phương cho thấy còn nhiều nguyên nhân chủ quan cần phải thẳng thắn thừa nhận để có giải pháp hữu hiệu hơn trong thời gian tới. Theo đại biểu, nguyên nhân chủ yếu chính là công tác lập kế hoạch không sát với thực tế, nhiều bộ ngành, địa phương cố lập kế hoạch dành cho bằng được nguồn vốn về cho mình mà không chú trọng đến thực tế tình hình khả thi của dự án dẫn đến khi triển khai rất khó, chậm và không giải ngân được.

Điển hình ở đây là một số các dự án mà cử tri và nhân dân cả nước quan tâm như Dự án đường vành đai 1 đoạn từ Hoàng Cầu đến Voi Phục, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt dự án đầu tư tháng 10/2018 dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2020 nhưng hiện tại việc đo, vẽ, kiểm đếm đất và tài sản trên đất của các hộ dân trong diện giải phóng mặt bằng vẫn chưa hoàn thành. Ngay cả 2 hạng mục cần làm trước là cầu vượt nút giao Nguyễn Chí Thanh - Đê La Thành và cầu vượt nút giao Giảng Võ - Đê La Thành cũng chưa có mặt bằng để khởi công.

Empty

Hay đáng lo ngại nhất là việc giải ngân các dự án sử dụng vốn ODA như dự án tuyến đường sắt đô thị mà đại biểu Nguyễn Phi Thường (Hà Nội) đã nêu. Đường sắt đô thị thành phố Hà Nội số 3 đoạn Nhổn - ga Hà Nội mới giải ngân được gần 43% số vốn năm 2020. Tại dự án tuyến đường sắt số 2 đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo đã được cấp nhưng không thể giải ngân kịp trong năm nay do thủ tục điều chỉnh tổng đầu tư dự án chưa thực hiện xong và quy hoạch ga ngầm C9 khu vực hồ Hoàn Kiếm chưa hoàn tất nên không thi công được các gói thầu xây lắp.

Qua tìm hiểu thực tế, Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cho biết, nhiều chủ đầu tư cho rằng khâu chuẩn bị đầu tư, thẩm định, phê duyệt đầu tư, lựa chọn nhà thầu hiện nay rất khó khăn và không loại trừ có cả những sự nhũng nhiễu, tiêu cực. Nhiều dự án kéo dài khâu này đến vài tháng. Một dự án đầu tư công từ khi giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến thực hiện triển khai và hoàn thành thường phải trên 10 bước, mỗi bước như vậy rất nhiều thời gian và tốn kém, có cả những chi phí không chính thức.

Để đẩy nhanh các thủ tục đầu tư, một số chủ đầu tư phải khoán cho doanh nghiệp thi công các công trình đứng ra lo liệu. Cũng vì cố gắng giành cho bằng được nguồn vốn, nhất là vốn ODA nên trong quá trình triển khai không đáp ứng được tiêu chuẩn của nhà tài trợ nên không triển khai ra thực tế được. Một số dự án cố triển khai trong khi thủ tục chưa hoàn chỉnh sát với thực tế nên khi hoàn thành không thể quyết toán được, tất nhiên không thể bàn giao, nghiệm thu công trình.

Thực tế tại một số địa phương, nhiều dự án được bố trí từ nguồn thu tiền sử dụng đất, song khi nguồn thu không đạt dẫn đến không thể giải ngân cũng khiến cho dự án không thể hoặc chậm triển khai.

Từ thực tế nêu trên, để nguồn vốn đầu tư công thực sự trở thành động lực phát triển của đất nước, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh nêu lên 4 kiến nghị lớn.

Thứ nhất, kiến nghị Chính phủ có giải pháp hữu hiệu hơn trong việc lựa chọn, phân bổ các dự án đầu tư công, tránh cào bằng, chủ nghĩa bình quân theo từng bộ, ngành, địa phương.

Thứ hai, kiên quyết thu hồi, chuyển vốn các dự án chậm triển khai, xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư chậm do yếu tố chủ quan được xem là không hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ ba, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính về đầu tư công, có cơ chế kiểm tra, giám sát các cán bộ thực thi công vụ và xử lý nghiêm minh khi phát hiện nhũng nhiễu, tiêu cực.

Thứ tư, các bộ, ngành cần có sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ nhằm nhìn nhận rõ những vướng mắc thuộc thẩm quyền của bộ, ngành mình để phân định trách nhiệm trong quá trình triển khai, đừng để trái bóng trách nhiệm đá qua, đá lại và việc chậm giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục trở thành điệp khúc “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi”.

Cùng về vấn đề này, Đại biểu Điểu Huỳnh Sang (Bình Phước) thì phân tích, nguyên nhân giải ngân chậm, bên cạnh các yếu tố chủ quan như năng lực chuyên môn của cán bộ, sự chậm trễ của các nhà đầu tư thì một số nguyên nhân khách quan cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc giải ngân vốn đầu tư công, đó là sự chồng chéo, rườm rà về mặt thủ tục do các quy định ở các luật theo quy định của pháp luật dẫn đến khó thực hiện và khó khăn.

Thứ hai là vướng trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Một số địa phương thì được phân bổ nguồn vốn đầu tư chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất, nhưng do bị ảnh hưởng đại dịch Covid-19 nên cũng không triển khai được và theo Nghị quyết số 84 của Chính phủ là giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chuyển đối với các bộ, ngành, địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 60%.

Chúng ta đang ở vào những tháng cuối năm và cũng rất cần một quyết sách mạnh mẽ để tạo bước nhảy vọt cho công tác giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 nhằm đạt được kỳ vọng đề ra”, Đại biểu Điểu Huỳnh Sang nêu quan điểm.

Gắn với trách nhiệm giải trình từng cá nhân

Trong văn bản gửi các địa phương, Thủ tướng cũng đã nêu rõ, trường hợp cán bộ công chức, cơ quan đơn vị cố tình làm chậm, nhũng nhiễu, vi phạm quy định, gây lãng phí về đầu tư công sẽ bị xử lý nghiêm. Theo TS Lê Đăng Doanh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế T.Ư, để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, không chỉ cần tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế thủ tục, giải phóng mặt bằng..., mà quan trọng hơn là gắn liền trách nhiệm người thực hiện. “Ví dụ như giải phóng mặt bằng đang rất vướng nhưng khó quy trách nhiệm vì liên quan đến rất nhiều đơn vị, nhiều khâu, vì vậy phải xem xét trách nhiệm giải trình với từng cá nhân, tránh lấy nghị quyết tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân”, ông Doanh nói.

Empty

PGS-TS Chu Công Minh - Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, nhận định đối với các dự án đầu tư công, thủ tục pháp lý rất nhiều, nhiêu khê. Muốn đẩy nhanh, đòi hỏi phải có những đột phá trong chính sách, cơ chế, rút ngắn các thủ tục hành chính nhưng điều này rất khó. Cán bộ sợ trách nhiệm, Chính phủ cũng rất khó ban hành ngay một quyết định mà có thể lập tức tác động, ảnh hưởng đến các dự án. Đối với lĩnh vực giao thông hạ tầng theo phương thức đầu tư công, dù có thúc giục đến đâu cũng sẽ có độ trễ. Nếu xác định dự án nào cần đẩy nhanh, yêu cầu tất cả các sở, ban, ngành liên quan, từ trên xuống dưới, phải tập trung tham gia vào giải quyết triệt để, linh động xử lý từng trường hợp thì mới mong có thể làm ngay được.

Do đó, song song với thúc vốn đầu tư công, cần nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý đối với các dự án thực hiện theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Tốc độ giải quyết vấn đề, đẩy dự án của doanh nghiệp tư nhân rất nhanh. Chỉ cần có pháp lý chặt chẽ, rõ ràng, chính sách hợp lý thu hút nhà đầu tư tư nhân, nhà nước vừa huy động thêm được vốn, vừa nhanh chóng triển khai được các dự án hạ tầng để phá băng kinh tế”, vị này gợi ý.

Khắc phục hạn chế trong lập kế hoạch đầu tư công

Lập kế hoạch 5 năm cho đầu tư công trung hạn cần có những thay đổi cho giai đoạn tiếp theo. Một điểm nhấn phải kể đến, đó chính là Luật Đầu tư công 2019 có hiệu lực từ đầu năm nay, khi Luật đã khắc phục được những vấn đề còn vướng mắc ở lần đầu lập kế hoạch 5 năm. Giai đoạn 2021-2025 quy mô đầu tư dự kiến cao hơn, lên mức hơn 2,7 triệu tỷ đồng, đòi hỏi một kế hoạch đầu tư công đúng và trúng để có hiệu quả cao cho dòng vốn quan trọng này.

Việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm sẽ cho thấy một bức tranh toàn cảnh về khả năng cân đối vốn đối với các dự án đã, đang và sẽ triển khai. Tuy nhiên, do phải tuân thủ kế hoạch đã được phê duyệt nên khi có sự thay đổi điều kiện thực hiện dự án sẽ mất rất nhiều thời gian, khiến tiến độ chậm kéo dài.

Nhiều chuyên gia cho rằng, kế hoạch đầu tư công trung hạn cần có sự hài hòa giữa mục tiêu 5 năm và kế hoạch từng năm phù hợp với thực tiễn. Để tránh tình trạng mạnh tỉnh nào tỉnh ấy làm dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí ngân sách, việc lập kế hoạch đầu tư công của các địa phương, Bộ ngành phải nằm trong quy hoạch vùng và tổng thể quốc gia.

Kế hoạch đầu tư công trung hạn giúp cho người lập kế hoạch ngân sách có cái nhìn tổng thể hơn tránh lãng phí. Nhưng ngược lại một kế hoạch chưa tốt sẽ khó mang lại những gì kỳ vọng.

Với giai đoạn 5 năm tới, quy mô đầu tư lớn hơn trong bối cảnh có thể biến động nhiều hơn, từng đồng vốn phải được suy nghĩ, xây dựng kế hoạch chi tiêu hiệu quả nhất, đúng nhất và muốn vậy, lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 vừa không thể chậm chễ vừa phải thật sát sao để có chất lượng tốt nhất cho cả giai đoạn phát triển tiếp theo.

Khánh An

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: