Cơ chế điều hành giá xăng dầu: Quá lạc hậu

Cơ chế điều hành giá xăng dầu: Quá lạc hậu

Giá xăng trong nước đang ở mức cao nhất từ trước tới nay

Giá thế giới giảm, lại tăng giá trong nước

Theo quyết định của liên bộ Tài chính - Công Thương thống nhất điều chỉnh giá bán xăng dầu tăng từ 20 giờ ngày 28/3/2013 tăng 362-1.430 đồng/lít, xăng điều chỉnh tối đa 1.430 đồng/lít, đẩy giá bán lẻ xăng A92 lên mức cao kỷ lục. Nhiều chuyên gia kinh tế, người dân, doanh nghiệp sản xuất ngỡ ngàng, choáng váng.

Cái lý của cơ quan chức năng đưa ra cho việc tăng giá xăng dầu trong bối cảnh giá thế giới đang giảm nghe ra có vẻ thiếu thuyết phục, mới đứng về phía lợi ích của cơ quan chức năng, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, chưa đứng về phía giới tiêu dùng.

Việc tăng giá xăng dầu, cơ quan chức năng cần có sự thông báo công khai, cụ thể, hết sức minh bạch, không thể đưa ra một trong các nguyên nhân là hạn chế buôn lậu. Vậy lực lượng quản lý thị trường làm gì? Trong khi đó, ngày 27/3 Trung Quốc quyết định giảm giá xăng dầu.

Để làm rõ việc điều chỉnh (tăng, giữ ổn định, hoặc giảm) giá chỉ có thể được xem xét qua cơ chế điều hành giá xăng dầu. Hiện nay giá xăng dầu được điều hành theo Nghị định 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu. Đến nay, nghị định này đã có nhiều bất cập cần sửa đổi gấp.

Đầu năm 2013, Bộ Công Thương vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện và đề xuất hướng sửa đổi Nghị định 84 cho phù hợp với thực tiễn. Về cơ chế điều hành giá, trong báo cáo cho rằng, về bản chất cách điều hành là không thay đổi, chỉ thay đổi chu kỳ, tần suất điều chỉnh giá.

Định dạng và sửa chữa những bất cập

Trong cơ chế định giá, hướng đề xuất sửa đổi của cơ quan chức năng vẫn thừa nhận định giá xăng dầu chia làm 3 bước, đề xuất thu hẹp biên độ tăng giá (3%; 5% và 7%) để không tăng giá sốc.

Lần đầu tiên đề xuất phương án khác là quy định con số cụ thể (tuyệt đối), khi giá cơ sở và giá hiện hành trong nước chênh 500 đồng/lít, doanh nghiệp được tự quyết định giá bán lẻ, nếu mức chênh từ 500 - 1.000 đồng/lít thì doanh nghiệp được quyết định giá bán kết hợp với sử dụng quỹ bình ổn. Nhà nước chỉ can thiệp khi mức chênh lệch giữa giá bán lẻ và giá cơ sở cao hơn 1.000 đồng/lít.

Tư duy đó hoàn toàn không phù hợp với cơ chế định giá trong nền kinh tế thị trường. Trong cơ chế thị trường, chỉ có một trong hai chủ thể có quyền định giá, là Nhà nước hoặc thị trường. Nếu thị trường độc quyền thì giá do Nhà nước định, còn thị trường cạnh tranh thì giá do thị trường định (doanh nghiệp định giá theo giá thị trường - đó là giá phổ biến về một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tại một thời điểm và không gian nhất định).

Trong bối canh thị trường xăng dầu chưa có cạnh tranh thực sự, vẫn còn độc quyền (Petrolimex với thị phần 55%, giữ vị trí thống lĩnh thị trường xăng dầu nội địa), với một thị trường còn mang tính độc quyền, Nhà nước để cho doanh nghiệp tự quyết định giá dù trong biên độ nhỏ, là trái với cơ chế quản lý giá trong nền kinh tế thị trường. Định giá xăng dầu vẫn chia 3 bước, theo cơ chế lưỡng tính là không phù hợp.

Qua các lần điều chỉnh tăng, giảm giá cho thấy việc điều hành giá không đúng với diễn biến của giá thị trường thế giới khi có sự diễn biến phức tạp của giá xăng dầu thế giới. Việc giá trong nước tăng không kịp với giá thế giới buộc các doanh nghiệp phải găm hàng, chờ thời điểm có lãi mới bán. doanh nghiệp đã tìm mọi cách trì hoãn để không bán hàng, như mất điện, bảo trì hệ thống, hỏng máy... Đó là lẽ đương nhiên trong hoạt động kinh doanh trên thương trường.

Thông thường, các doanh nghiệp phải đẩy mạnh bán ra để thu lợi nhuận. Thế nhưng tại sao doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu găm hàng? Đây là lỗi cơ chế quản lý giá. Do việc kìm giá quá lâu (4 lần) từ 15/2-26/2/2013) chủ yếu sử dụng quỹ bình ổn, hệ lụy dẫn đến khi giá thế giới giảm, nguồn quỹ bình ổn cạn kiệt và có nơi âm, chúng ta lại quyết định tăng giá, trái với quy luật thị trường, gây sốc, choáng váng cho người tiêu dùng. Niềm tin thị trường đã thấp, nay lại càng xuống thấp hơn nữa.

Sử dụng linh hoạt, nhạy bén các công cụ điều tiết

Thuế, giá, phí, quỹ bình ổn, mức chiết khấu, lợi nhuận định mức... là những bộ phận quan trọng trong cấu thành của giá bán. Việc sử dụng các công cụ này thời gian qua chưa linh hoạt nhạy bén.

Trước ngày 28/3 sau khi cộng các loại thuế, phí và được hưởng mức trích quỹ bình ổn với mặt hàng xăng ở mức 2.000 đồng/lít, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối đang có mức lãi khoảng 800 - 850 đồng/lít. Mức lãi với mặt hàng diesel 0,5S khoảng trên 700 đồng/lít. Mặt hàng lãi cao nhất là dầu hỏa với mức khoảng trên 900 đồng/lít.

Quỹ bình ổn giá xăng dầu tại nhiều đơn vị đã bị âm do mức trích sử dụng quỹ cao kéo dài trong thời gian qua. Ngay các đơn vị chiếm thị phần lớn như Petrolimex, PV Oil, quỹ bình ổn cũng đã được sử dụng hết.

Người dân đang phải chịu đựng trả thêm tiền, còn doanh nghiệp xăng dầu đang có lãi nhờ quỹ bình ổn giá. Với mức trích như vậy, đáng ra giá xăng bán lẻ sẽ rẻ hơn 300 đồng/lít, nhưng người dân vẫn phải trả thêm 300 đồng/lít để tạo quỹ nhằm bù lại khi giá thế giới tăng.

Do lãi nhiều, nên mức chiết khấu mà các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu trích cho các đại lý lên tới 700-800 đồng/lít xăng bán lẻ. Chính vì thế, bán được càng nhiều, doanh nghiệp nhập khẩu càng có lãi. Đây chính là lý do khiến các doanh nghiệp đang có cuộc chạy đua ngầm về mức chi hoa hồng chia cho các đại lý từ 200 đồng tăng lên gấp 4 lần như hiện nay.

Chi phí hoa hồng, xét cho cùng người tiêu dùng phải gánh. Nếu tính bình quân theo lượng xăng dầu được nhập trong năm 2013 là 13 triệu tấn, trong đó 60% mặt hàng xăng, với lượng bán ra trung bình khoảng trên 2 triệu lít xăng/ngày, các doanh nghiệp đang ung dung hàng chục tỷ đồng lợi nhuận/ngày.

Định mức chi phí, thù lao hoa hồng đại lý

Những chi phí kinh doanh này cần sửa đổi, bổ sung theo hướng điều chỉnh mức chi phí kinh doanh định mức, đồng thời khống chế mức thù lao dành cho tổng đại lý, đại lý không vượt quá chi phí kinh doanh định mức.

Cụ thể, chi phí bán lẻ bình quân ở các địa bàn gần cảng nhập khẩu và gần nhà máy chế biến xăng, dầu ở trong nước của các thương nhân đầu mối đối với xăng, dầu diezel, dầu hỏa sẽ có mức tối đa là 860 đồng/lít (quy định hiện nay là 600 đồng/lít).

Đối với các địa bàn khác với quy định trên tối đa bằng 860 đồng/lít cộng với tối đa 2% mức giá bán lẻ xăng, dầu diezel, dầu hỏa ở địa bàn gần cảng nhập khẩu và gần nhà máy chế biến xăng, dầu ở trong nước. Như vậy, với cách tính này chi phí kinh doanh định mức được nâng lên, doanh nghiệp nhập khẩu đầu mối sẽ có lợi hơn.

Theo chúng tôi, cần minh bạch chi phí kinh doanh này gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi để có thể đánh giá sự biến động của các chi phí mà doanh nghiệp phải thực hiện. Khi đưa ra mức cụ thể cần phải khảo sát, đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn, không đưa ra mức theo chủ quan của cơ quan quản lý hoặc theo sự đề nghị của các doanh nghiệp. Nếu đưa ra mức quá cao sẽ thiệt hại cho người tiêu dùng, nếu quá thấp không đủ bù đắp chi phí thì doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại để hoạt động.

Về quỹ bình ổn giá nên tập trung về một đầu mối để quản lý có hiệu quả, được sử dụng linh hoạt và đáp ứng được yêu cầu bình ổn giá trong từng thời kỳ. Không được phép để quỹ bình ổn trong trạng thái âm. Tuy nhiên, cần nghiên cứu lại nguồn hình thành quỹ, ngoài sự đóng góp của người tiêu dùng, doanh nghiệp cũng cần trích một phần rất nhỏ lợi nhuận để chia sẻ sự rủi ro khi có sự biến động về giá. Đồng thời cần có cơ chế quản lý, giám sát và minh bạch công khai về quỹ bình ổn.

Về tần suất điều chỉnh giá, tần suất 10 ngày cũng chưa thật phù hợp với sự biến động của giá xăng dầu thế giới vốn thường xuyên biến động, mà cần phải ngắn hơn. Song một vấn đề khó khăn là hiện xăng dầu dự trữ quốc gia đang được để tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối. Thực tế này dễ dẫn đến tình trạng khó tách bạch giữa xăng dầu dự trữ quốc gia và xăng dầu kinh doanh. Cần phải nghiên cứu, xây dựng cơ chế theo hướng bảo đảm minh bạch, thuận lợi trong quản lý, sử dụng xăng dầu dự trữ quốc gia.

Định mức hao hụt và quản lý giá đầu vào

Định mức hao hụt tự nhiên về xăng dầu hiện nay do các doanh nghiệp đầu mối tự xây dựng, ban hành và thực hiện, cơ quan Nhà nước không thẩm định nên việc quản lý chi phí hao hụt của các doanh nghiệp trong giá vốn hàng bán còn mang tính chủ quan.

Nếu các doanh nghiệp lợi dụng việc tự quy định mức hao hụt để nâng chi phí kinh doanh, sẽ gây khó khăn cho việc giám sát. Cần ban hành một định mức hao hụt xăng dầu cho từng công đoạn đối với từng chủng loại xăng, dầu.

Hiện các doanh nghiệp tự tiến hành nhập khẩu, khó khăn trong việc quản lý giá đầu vào. Cần tổ chức đấu thầu theo tiêu chí giá nhập của các đầu mối. Hiện nay ngoài thị trường Singapore, hiện đơn vị đang nhập khẩu tại nhiều thị trường khác chẳng hạn như Trung Đông. Nên việc quy định lấy giá Platt’s tại Singapore để tính giá cơ sở liệu có còn hợp lý?

Với những cách thức điều hành giá xăng dầu còn lúng túng, không phù hợp với diễn biến của giá thế giới như hiện nay, một vấn đề đặt ra cần phải sửa đổi gấp Nghị định 84. Đồng thời cơ quan chức năng cũng cần có những biện pháp xử lý nghiêm những trường hợp sau khi tăng giá xăng dầu sẽ lấy “cớ” để tăng giá bán của mình một cách bất hợp lý.

Theo VnEconomy

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: