Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8: Đường “cao tốc” nhưng không dễ “tăng tốc”

(NB&CL) Được ví như đường cao tốc nối Việt Nam với EU, hiệp định EVFTA vừa chính thức có hiệu lực từ tháng 8 đang được kỳ vọng sẽ mang lại cho DNVN nhiều cơ hội. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rõ, đường cao tốc mở nhưng DNVN cũng khó “tăng tốc” nếu vẫn tư duy theo kiểu đi trên “đường làng”.

FTA đã mang lại những gì?

Theo Bộ Công thương, trong vòng một năm qua, kể từ khi chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam, việc thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ngoại trừ Úc và Singapore giữ mức tương đương (do Việt Nam đã có quan hệ FTA trước đó), còn lại xuất khẩu sang các thị trường khác trong năm 2019 đều tăng mạnh. Trong sáu đối tác đã thực thi CPTPP, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada tăng mạnh nhất (29,8%), sau đó là Mexico (26,3%). Việt Nam đã cấp 21.163 C/O mẫu CPTPP cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đi các nước thuộc Hiệp định với tổng giá trị hàng hóa gần 600 triệu USD.

Cùng kỳ, việc thực hiện các hiệp định thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Chủ tịch nước hoặc phê duyệt của Chính phủ cũng khá tích cực, với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường có FTA năm 2019 là 123,11 tỷ USD (năm 2004, Việt Nam mới có hai đối tác FTA là ASEAN và Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 7 tỷ USD). Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường đối tác FTA của Việt Nam năm 2019 là 186 tỷ USD.  Đáng lưu ý, FTA với những đối tác có nền sản xuất mang tính bổ sung với Việt Nam như Nhật Bản, Úc, New Zealand, Chile đem lại tác động tích cực hơn, cụ thể là Việt Nam ngày càng xuất siêu sang các thị trường này sau khi FTA có hiệu lực.

thumb_amps

Tuy nhiên, những cơ hội từ CPTPP vẫn chưa được khai thác hết. Về tổng thể, Việt Nam vẫn nhập siêu từ các thị trường có FTA, nhất là với các đối tác có nền sản xuất mang tính bổ sung thấp, thậm chí cạnh tranh với Việt Nam. Hiện mới có khoảng 40% số tỉnh, thành phố có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước CPTPP. Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho biết, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đều đã “nghe nói” tới các FTA nhưng tỷ lệ các DN hiểu biết sâu về các FTA rất thấp. Trong khi cách thức hướng dẫn của các cơ quan nhà nước còn khó hiểu, phức tạp, thì rất nhiều DN cũng không có hành động chuẩn bị nào để tận dụng cơ hội hay dự phòng rủi ro từ việc thực thi các FTA. Theo khảo sát 8.600 DN tư nhân Việt Nam (trong khuôn khổ Điều tra PCI) do VCCI công bố hồi tháng 3/2019, tỷ lệ các DN có hiểu biết nhất định về các FTA tiêu biểu (đã tìm hiểu một số cam kết hoặc đã tìm hiểu kỹ) chỉ là thiểu số (kể cả FTA lớn như CPTPP), cao nhất là với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cũng chỉ đạt 37%. Tỷ lệ các DN có hiểu biết sâu về các FTA rất nhỏ, thấp nhất là với FTA giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) - chỉ 1%, cao nhất là với AEC cũng chỉ 3%.

Điều tra của VCCI từ năm 2016 tiến hành với DN trong bốn ngành sản xuất (dệt may, giày dép, đồ gỗ, điện tử) cho thấy, hai yếu tố lớn nhất cản trở DN hưởng lợi từ các FTA lần lượt là tình trạng thiếu thông tin về cam kết và cách thức thực hiện và bất cập trong công tác tổ chức thực thi của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nhưng đáng nói hơn là ba năm sau khi tiến hành thăm dò tại một cuộc hội thảo về Hiệp định CPTPP với hơn 300 DN, kết quả vẫn không hề thay đổi!

Bánh ngon nhưng khó nuốt! 

Giữa lúc dịch bệnh Covid-19 đang lan rộng và diễn biến phức tạp; nguồn cung nguyên vật liệu từ Trung Quốc bị gián đoạn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp và ngành hàng của Việt Nam, thì việc Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực đang được kỳ vọng mở ra một cơ hội vàng thúc đẩy sự chuyển dịch các chuỗi giá trị để giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc.

2724_20

Trong điều kiện có tới 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, liệu các doanh nghiệp trong nước có khả năng tận dụng được những cơ hội lớn mà thị trường châu Âu mở ra?  Châu Âu là thị trường lớn và cũng là thị trường truyền thống của doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2019 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và EU đạt 41,5 tỷ USD, chỉ xếp thứ 2 sau Hoa Kỳ. Khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, có trên 70% mặt hàng được giảm thuế và EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,7% số dòng thuế. Đây là lợi thế lớn dành cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Theo TS Nguyễn Văn Tân - Trưởng khoa Quản trị - Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Lạc Hồng thì: “Khi EVFTA tham gia vào thị trường thì VN chúng ta thay đổi tích cực hơn, nhanh hơn. Nó đòi các nhà lập chính sách phải nghiên cứu thật kỹ môi trường của EU để thể chế của chúng ta nó phù hợp ngay với việc ký kết các hiệp định. Chính vì vậy mà việc thay đổi Luật Lao động, Luật Môi trường nó giúp chúng ta bắt kịp với nhu cầu phát triển của quốc  tế”. 

Tuy nhiên không phải tất cả đều là thuận lợi. Để vào được thị trường châu Âu, hàng hóa dịch vụ Việt Nam cũng phải vượt qua được những quy định khắt khe về chất lượng sản phẩm, những tiêu chuẩn về môi trường, lao động và cả những hàng rào kỹ thuật mà các nước đặt ra để bảo hộ hàng hoá trong nước. Ông Trần Dục Dân – Giám đốc Công ty cổ phần giày dép Cao su màu Đồng Nai cho rằng: “Hiện nay ngành giày dép rất phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Chất lượng sản phẩm của họ tương đương với trong nước, nhưng giá cả họ thấp hơn 30-40%. Cũng đã nói nhiều lần, về ngành công nghiệp phụ trợ trong nước thì Nhà nước phải có chính sách vĩ mô thật là xuyên suốt, thật là quyết tâm thì chúng ta mới thoát được cái này. Ngay cả AFTA, tỷ lệ nội địa hóa chắc chắn Châu Âu sẽ có quy định rất ngặt nghèo. Nếu chúng ta không có một ngành công nghiệp phụ trợ mạnh, vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc thì chúng ta chẳng qua chỉ xuất vật tư cho Trung Quốc. Và có AFTA cũng chỉ ngắm mà chơi thôi”.

Rõ ràng, bên cạnh những cơ hội mở ra bao giờ cũng có những thách thức đi kèm. Vấn đề là “luật chơi” được cam kết trong EVFTA là những điều khoản cụ thể và minh bạch. Khi tuân thủ những cam kết đã đặt ra, sẽ tạo áp lực từ phía Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế. Bản thân các doanh nghiệp, khi phấn đấu vượt qua những quy định về kiểm định chất lượng, thậm chí là những rào cản thương mại sẽ buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, từ đó giúp nâng cao chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Việt Nam. Và trên tổng thể, điều này sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 Mở cửa đón gió lành

Rõ ràng không ai có thể làm thay DN trong việc tự nâng cao năng lực của mình, bao gồm cả năng lực nắm bắt thông tin và thích ứng với môi trường kinh tế mở. Đề cập đến Hiệp định EVFTA nói riêng và các FTA nói chung, TS Nguyễn Đức Thành - thành viên Liên minh Chính sách Nông nghiệp Việt Nam, Cố vấn trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) nói: “Để các DN Việt có thể được hưởng lợi từ Hiệp định EVFTA thì sản phẩm của chúng ta phải đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn, thí dụ như trong lĩnh vực nông nghiệp là về môi trường, an toàn thực phẩm và cả lao động nữa”. Chính vì thế, ông Thành cho rằng, chưa nên kỳ vọng EVFTA có thể tạo ra những biến chuyển gì đột phá trong năm nay, năm sau và thậm chí một vài năm sau nữa. Chỉ một số ít DN lớn, đã có hệ thống tiêu chuẩn tốt, đã quen xuất khẩu sang các đối tác “khó tính” như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu thì mới hưởng lợi.

evfta_hfzg_thumb

Vẫn theo TS Nguyễn Đức Thành, DN có thể phải chấp nhận “phân cấp”: DN nhỏ và vừa nên xây dựng quan hệ đối tác với các DN lớn, vốn lớn, có khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn châu Âu và đã quen với làm ăn quốc tế. Và “miếng bánh” sẽ được phân chia, ai cũng có phần tương xứng với đóng góp của mình.

Về phía quản lý nhà nước, các chuyên gia kinh tế có chung nhận định, với việc thực thi các FTA, xuất khẩu tăng rất nhanh, dẫn đến độ mở kinh tế quá lớn (tương đương 200% GDP). Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh - một trong những nhà đàm phán chủ chốt của Việt Nam trong tiến trình ký kết các FTA cũng chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải kiểm soát độ mở của nền kinh tế và cho rằng điều này không đi ngược lại chủ trương hội nhập. “Cập nhật chiến lược FTA, lựa chọn đối tác đàm phán một cách thận trọng, có nguyên tắc và thúc đẩy tiêu dùng trong nước” - đó là những lưu ý mà vị Thứ trưởng đặc biệt nhấn mạnh.

Còn theo Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, một nhiệm vụ cần chú trọng trong thời gian tới là đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy các nước thành viên EU phê chuẩn Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU. Chính phủ, đặc biệt là Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp chặt chẽ với Tòa án Nhân dân Tối cao để ban hành các văn bản pháp luật thi hành các FTA, giúp các hiệp định này được đưa vào cuộc sống một cách êm thuận, bảo đảm hiệu quả và thực chất.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải tăng cường năng lực phát hiện, ngăn chặn những hành vi lợi dụng ưu đãi thuế quan mà các đối tác áp dụng đối với hàng hóa xuất xứ Việt Nam, gian lận xuất xứ để được hưởng ưu đãi về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu. Với những FTA mà Việt Nam tham gia, hàng hóa nước ngoài “đội lốt” hàng Việt Nam sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt.

Hơn nữa, nếu hàng hóa giả xuất xứ từ Việt Nam xuất khẩu ồ ạt thì các nước nhập khẩu hàng sẽ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp... khiến cho mức thuế tăng cao, ảnh hưởng rất lớn đến hàng Việt Nam đích thực. Đấy là nguy cơ nhãn tiền không thể không quan tâm xử lý.

Khánh An

Xem thêm

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: