Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8: Đường “cao tốc” nhưng không dễ “tăng tốc”

(NB&CL) Được ví như đường cao tốc nối Việt Nam với EU, hiệp định EVFTA vừa chính thức có hiệu lực từ tháng 8 đang được kỳ vọng sẽ mang lại cho DNVN nhiều cơ hội. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rõ, đường cao tốc mở nhưng DNVN cũng khó “tăng tốc” nếu vẫn tư duy theo kiểu đi trên “đường làng”.

FTA đã mang lại những gì?

Theo Bộ Công thương, trong vòng một năm qua, kể từ khi chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam, việc thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ngoại trừ Úc và Singapore giữ mức tương đương (do Việt Nam đã có quan hệ FTA trước đó), còn lại xuất khẩu sang các thị trường khác trong năm 2019 đều tăng mạnh. Trong sáu đối tác đã thực thi CPTPP, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada tăng mạnh nhất (29,8%), sau đó là Mexico (26,3%). Việt Nam đã cấp 21.163 C/O mẫu CPTPP cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đi các nước thuộc Hiệp định với tổng giá trị hàng hóa gần 600 triệu USD.

Cùng kỳ, việc thực hiện các hiệp định thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Chủ tịch nước hoặc phê duyệt của Chính phủ cũng khá tích cực, với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường có FTA năm 2019 là 123,11 tỷ USD (năm 2004, Việt Nam mới có hai đối tác FTA là ASEAN và Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 7 tỷ USD). Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường đối tác FTA của Việt Nam năm 2019 là 186 tỷ USD.  Đáng lưu ý, FTA với những đối tác có nền sản xuất mang tính bổ sung với Việt Nam như Nhật Bản, Úc, New Zealand, Chile đem lại tác động tích cực hơn, cụ thể là Việt Nam ngày càng xuất siêu sang các thị trường này sau khi FTA có hiệu lực.

thumb_amps

Tuy nhiên, những cơ hội từ CPTPP vẫn chưa được khai thác hết. Về tổng thể, Việt Nam vẫn nhập siêu từ các thị trường có FTA, nhất là với các đối tác có nền sản xuất mang tính bổ sung thấp, thậm chí cạnh tranh với Việt Nam. Hiện mới có khoảng 40% số tỉnh, thành phố có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước CPTPP. Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho biết, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đều đã “nghe nói” tới các FTA nhưng tỷ lệ các DN hiểu biết sâu về các FTA rất thấp. Trong khi cách thức hướng dẫn của các cơ quan nhà nước còn khó hiểu, phức tạp, thì rất nhiều DN cũng không có hành động chuẩn bị nào để tận dụng cơ hội hay dự phòng rủi ro từ việc thực thi các FTA. Theo khảo sát 8.600 DN tư nhân Việt Nam (trong khuôn khổ Điều tra PCI) do VCCI công bố hồi tháng 3/2019, tỷ lệ các DN có hiểu biết nhất định về các FTA tiêu biểu (đã tìm hiểu một số cam kết hoặc đã tìm hiểu kỹ) chỉ là thiểu số (kể cả FTA lớn như CPTPP), cao nhất là với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cũng chỉ đạt 37%. Tỷ lệ các DN có hiểu biết sâu về các FTA rất nhỏ, thấp nhất là với FTA giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) - chỉ 1%, cao nhất là với AEC cũng chỉ 3%.

Điều tra của VCCI từ năm 2016 tiến hành với DN trong bốn ngành sản xuất (dệt may, giày dép, đồ gỗ, điện tử) cho thấy, hai yếu tố lớn nhất cản trở DN hưởng lợi từ các FTA lần lượt là tình trạng thiếu thông tin về cam kết và cách thức thực hiện và bất cập trong công tác tổ chức thực thi của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nhưng đáng nói hơn là ba năm sau khi tiến hành thăm dò tại một cuộc hội thảo về Hiệp định CPTPP với hơn 300 DN, kết quả vẫn không hề thay đổi!

Bánh ngon nhưng khó nuốt! 

Giữa lúc dịch bệnh Covid-19 đang lan rộng và diễn biến phức tạp; nguồn cung nguyên vật liệu từ Trung Quốc bị gián đoạn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp và ngành hàng của Việt Nam, thì việc Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực đang được kỳ vọng mở ra một cơ hội vàng thúc đẩy sự chuyển dịch các chuỗi giá trị để giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc.

2724_20

Trong điều kiện có tới 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, liệu các doanh nghiệp trong nước có khả năng tận dụng được những cơ hội lớn mà thị trường châu Âu mở ra?  Châu Âu là thị trường lớn và cũng là thị trường truyền thống của doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2019 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và EU đạt 41,5 tỷ USD, chỉ xếp thứ 2 sau Hoa Kỳ. Khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, có trên 70% mặt hàng được giảm thuế và EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,7% số dòng thuế. Đây là lợi thế lớn dành cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Theo TS Nguyễn Văn Tân - Trưởng khoa Quản trị - Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Lạc Hồng thì: “Khi EVFTA tham gia vào thị trường thì VN chúng ta thay đổi tích cực hơn, nhanh hơn. Nó đòi các nhà lập chính sách phải nghiên cứu thật kỹ môi trường của EU để thể chế của chúng ta nó phù hợp ngay với việc ký kết các hiệp định. Chính vì vậy mà việc thay đổi Luật Lao động, Luật Môi trường nó giúp chúng ta bắt kịp với nhu cầu phát triển của quốc  tế”. 

Tuy nhiên không phải tất cả đều là thuận lợi. Để vào được thị trường châu Âu, hàng hóa dịch vụ Việt Nam cũng phải vượt qua được những quy định khắt khe về chất lượng sản phẩm, những tiêu chuẩn về môi trường, lao động và cả những hàng rào kỹ thuật mà các nước đặt ra để bảo hộ hàng hoá trong nước. Ông Trần Dục Dân – Giám đốc Công ty cổ phần giày dép Cao su màu Đồng Nai cho rằng: “Hiện nay ngành giày dép rất phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Chất lượng sản phẩm của họ tương đương với trong nước, nhưng giá cả họ thấp hơn 30-40%. Cũng đã nói nhiều lần, về ngành công nghiệp phụ trợ trong nước thì Nhà nước phải có chính sách vĩ mô thật là xuyên suốt, thật là quyết tâm thì chúng ta mới thoát được cái này. Ngay cả AFTA, tỷ lệ nội địa hóa chắc chắn Châu Âu sẽ có quy định rất ngặt nghèo. Nếu chúng ta không có một ngành công nghiệp phụ trợ mạnh, vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc thì chúng ta chẳng qua chỉ xuất vật tư cho Trung Quốc. Và có AFTA cũng chỉ ngắm mà chơi thôi”.

Rõ ràng, bên cạnh những cơ hội mở ra bao giờ cũng có những thách thức đi kèm. Vấn đề là “luật chơi” được cam kết trong EVFTA là những điều khoản cụ thể và minh bạch. Khi tuân thủ những cam kết đã đặt ra, sẽ tạo áp lực từ phía Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế. Bản thân các doanh nghiệp, khi phấn đấu vượt qua những quy định về kiểm định chất lượng, thậm chí là những rào cản thương mại sẽ buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, từ đó giúp nâng cao chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Việt Nam. Và trên tổng thể, điều này sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 Mở cửa đón gió lành

Rõ ràng không ai có thể làm thay DN trong việc tự nâng cao năng lực của mình, bao gồm cả năng lực nắm bắt thông tin và thích ứng với môi trường kinh tế mở. Đề cập đến Hiệp định EVFTA nói riêng và các FTA nói chung, TS Nguyễn Đức Thành - thành viên Liên minh Chính sách Nông nghiệp Việt Nam, Cố vấn trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) nói: “Để các DN Việt có thể được hưởng lợi từ Hiệp định EVFTA thì sản phẩm của chúng ta phải đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn, thí dụ như trong lĩnh vực nông nghiệp là về môi trường, an toàn thực phẩm và cả lao động nữa”. Chính vì thế, ông Thành cho rằng, chưa nên kỳ vọng EVFTA có thể tạo ra những biến chuyển gì đột phá trong năm nay, năm sau và thậm chí một vài năm sau nữa. Chỉ một số ít DN lớn, đã có hệ thống tiêu chuẩn tốt, đã quen xuất khẩu sang các đối tác “khó tính” như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu thì mới hưởng lợi.

evfta_hfzg_thumb

Vẫn theo TS Nguyễn Đức Thành, DN có thể phải chấp nhận “phân cấp”: DN nhỏ và vừa nên xây dựng quan hệ đối tác với các DN lớn, vốn lớn, có khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn châu Âu và đã quen với làm ăn quốc tế. Và “miếng bánh” sẽ được phân chia, ai cũng có phần tương xứng với đóng góp của mình.

Về phía quản lý nhà nước, các chuyên gia kinh tế có chung nhận định, với việc thực thi các FTA, xuất khẩu tăng rất nhanh, dẫn đến độ mở kinh tế quá lớn (tương đương 200% GDP). Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh - một trong những nhà đàm phán chủ chốt của Việt Nam trong tiến trình ký kết các FTA cũng chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải kiểm soát độ mở của nền kinh tế và cho rằng điều này không đi ngược lại chủ trương hội nhập. “Cập nhật chiến lược FTA, lựa chọn đối tác đàm phán một cách thận trọng, có nguyên tắc và thúc đẩy tiêu dùng trong nước” - đó là những lưu ý mà vị Thứ trưởng đặc biệt nhấn mạnh.

Còn theo Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, một nhiệm vụ cần chú trọng trong thời gian tới là đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy các nước thành viên EU phê chuẩn Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU. Chính phủ, đặc biệt là Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp chặt chẽ với Tòa án Nhân dân Tối cao để ban hành các văn bản pháp luật thi hành các FTA, giúp các hiệp định này được đưa vào cuộc sống một cách êm thuận, bảo đảm hiệu quả và thực chất.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải tăng cường năng lực phát hiện, ngăn chặn những hành vi lợi dụng ưu đãi thuế quan mà các đối tác áp dụng đối với hàng hóa xuất xứ Việt Nam, gian lận xuất xứ để được hưởng ưu đãi về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu. Với những FTA mà Việt Nam tham gia, hàng hóa nước ngoài “đội lốt” hàng Việt Nam sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt.

Hơn nữa, nếu hàng hóa giả xuất xứ từ Việt Nam xuất khẩu ồ ạt thì các nước nhập khẩu hàng sẽ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp... khiến cho mức thuế tăng cao, ảnh hưởng rất lớn đến hàng Việt Nam đích thực. Đấy là nguy cơ nhãn tiền không thể không quan tâm xử lý.

Khánh An

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: