Khơi dậy nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong đời sống xã hội

(CLO) Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất của người dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Khi điều kiện vật chất khởi sắc, đời sống tinh thần cũng cần được nuôi dưỡng, bồi đắp. Nhưng nếu đặt một câu hỏi đơn giản: Đã bao lâu gia đình bạn chưa đi xem phim, chưa tới viện bảo tàng? Vở kịch gần nhất đã xem là khi nào và bức tranh nào bạn thích? Hay đơn giản là tác phẩm văn học nào đã đọc trong thời gian gần đây?... thì không ít người sẽ giật mình nhận ra đã lâu rồi chưa thực sự quan tâm đúng mức đến đời sống văn hóa tinh thần của bản thân và gia đình.

Thực tế đó cho thấy một điều đáng suy nghĩ: Khi đời sống vật chất đang đi lên, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của xã hội vẫn chưa phát triển tương xứng. Trong khi đó, nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa không chỉ là nâng cao đời sống tinh thần của người dân, mà còn là nền tảng để phát triển con người và xây dựng một xã hội văn minh, bền vững.

Ở bất kỳ quốc gia nào, mức độ hưởng thụ văn hóa của người dân luôn là một chỉ dấu quan trọng phản ánh trình độ phát triển xã hội. Một xã hội càng văn minh thì nhu cầu đọc sách, xem kịch, đi bảo tàng, thưởng thức nghệ thuật càng trở thành chuyện bình thường trong đời sống hằng ngày.

Văn hóa không chỉ để giải trí. Văn hóa giúp con người biết sống đẹp hơn, ứng xử nhân văn hơn, biết phân biệt đúng – sai, tốt – xấu. Một xã hội có nhu cầu văn hóa cao cũng là một xã hội có nền tảng tinh thần vững chắc. Chính vì vậy, việc nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân không chỉ là việc riêng của ngành văn hóa mà là nhiệm vụ chung trong chiến lược phát triển con người Việt Nam.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ: Phát triển văn hóa và con người là nền tảng, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là động lực to lớn cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước; người dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là trung tâm thụ hưởng các giá trị văn hóa. Điều đó cho thấy nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài.

baf7113a-777a-4cc5-9e3e-6ecba3ab5493.jpg

Không phải ngẫu nhiên mà Chính phủ dự kiến trình Quốc hội chương trình đầu tư khoảng 256.000 tỷ đồng cho phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Nhưng để những nguồn lực lớn như vậy phát huy hiệu quả, điều quan trọng là phải khơi dậy được nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong xã hội. Bởi nhu cầu ấy chính là một chỉ số quan trọng phản ánh mức độ hạnh phúc của mỗi quốc gia.

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người vẫn coi việc đi xem kịch, vào bảo tàng, tham gia một buổi concert là chuyện “khi nào rảnh thì tính”. Không ít gia đình nhiều năm liền chưa một lần đến rạp hát. Có người cả năm không đọc hết một cuốn sách.

Một phần nguyên nhân là do áp lực mưu sinh. Khi cái ăn, cái mặc vẫn là mối quan tâm thường trực của nhiều gia đình, thì việc dành thời gian và tiền bạc cho thưởng thức vẫn được coi là “xa xỉ”.

Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong không ít trường hợp, việc thưởng thức văn hóa vẫn bị coi là tốn thời gian mà “không mang lại lợi ích cụ thể”. Chính suy nghĩ này khiến nhiều hoạt động văn hóa dù được tổ chức công phu vẫn chưa thu hút được đông đảo công chúng.

Không khó để nhận thấy nhiều rạp hát chưa sáng đèn thường xuyên, nhiều sân khấu kịch thưa vắng khán giả, nhiều bảo tàng, phòng tranh còn ít người lui tới. Khi nhu cầu thưởng thức văn hóa chưa trở thành thói quen xã hội, thì người làm văn hóa cũng khó có điều kiện phát huy hết khả năng sáng tạo. Đó không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là vấn đề của cả môi trường văn hóa xã hội.

Một thực tế khác cũng cần được nhìn nhận là khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền vẫn còn khá rõ. Ở nhiều địa phương, thiết chế văn hóa đã được đầu tư nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Người dân còn thiếu cơ hội tiếp cận các chương trình nghệ thuật chất lượng cao, nhất là ở các tỉnh vùng cao nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trong khi đó, ở khu vực đô thị, dù điều kiện thuận lợi hơn nhưng thói quen hưởng thụ văn hóa vẫn chưa thật sự trở thành nếp sống phổ biến.

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều sản phẩm giải trí nhanh, dễ tiếp cận đang chiếm ưu thế. Điều này đáp ứng nhu cầu thư giãn trước mắt nhưng chưa chắc đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần lâu dài. Nếu nhu cầu văn hóa không được quan tâm đúng mức, môi trường văn hóa xã hội cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố lệch chuẩn.

Thời gian qua, Nhà nước đã dành nhiều nguồn lực cho phát triển văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm xây dựng. Nhiều chương trình nghệ thuật phục vụ nhân dân được tổ chức. Tuy nhiên, nếu nhu cầu hưởng thụ văn hóa chưa trở thành nhu cầu tự thân của xã hội thì hiệu quả vẫn khó đạt như mong muốn.

a7398bab-de89-4e93-8f93-cdcf6d9cb9da.jpg
Chính nhu cầu của công chúng sẽ tạo động lực cho sáng tạo văn hóa phát triển.

Văn hóa không thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào đầu tư từ phía Nhà nước. Điều quan trọng hơn là hình thành được thói quen và nhu cầu thưởng thức văn hóa trong mỗi người dân. Chính nhu cầu của công chúng sẽ tạo động lực cho sáng tạo văn hóa phát triển. Và ngược lại, những sản phẩm văn hóa có giá trị sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và từng bước hình thành nhu cầu hưởng thụ văn hóa bền vững trong xã hội.

Nhu cầu hưởng thụ văn hóa không tự nhiên hình thành mà cần được nuôi dưỡng từ rất sớm. Môi trường đầu tiên chính là gia đình, nơi những câu chuyện cổ tích của bà, lời ru à ơi của mẹ, những buổi tối cả nhà quây quần bên trang sách, những lần theo cha mẹ đi hội làng, xem hát, xem múa… âm thầm gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ tình yêu cái đẹp, bồi đắp nhân cách và hình thành sự gắn bó với những giá trị văn hóa của dân tộc.

Tiếp nối môi trường gia đình, nhà trường cũng giữ vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng tình yêu văn hóa cho thế hệ trẻ. Việc tạo điều kiện để học sinh được tiếp cận thường xuyên với văn học, nghệ thuật và các hoạt động trải nghiệm văn hóa trong nhà trường sẽ góp phần hình thành nhu cầu thưởng thức cái đẹp một cách tự nhiên.

Thực tế hiện nay cho thấy không ít học sinh ngày càng xa dần với truyện cổ tích, với sách văn học, với các hoạt động nghệ thuật truyền thống. Khi trưởng thành, nhiều người cũng không hình thành được thói quen đọc sách hay tham gia các hoạt động văn hóa.

Bên cạnh đó, báo chí và truyền thông đại chúng cũng có vai trò quan trọng trong việc định hướng thị hiếu xã hội. Khi các giá trị tích cực được lan tỏa thường xuyên, nhu cầu văn hóa của xã hội sẽ từng bước được nâng lên.

Một xã hội phát triển không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn được thể hiện qua đời sống tinh thần của người dân. Khi mỗi gia đình coi việc đọc sách là chuyện thường ngày, khi việc đưa con đi bảo tàng hay xem biểu diễn nghệ thuật trở thành thói quen, khi thưởng thức văn hóa không còn bị coi là xa xỉ, thì đó chính là dấu hiệu của một xã hội văn minh.

Nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân cũng chính là góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường sống lành mạnh và tăng cường sức mạnh nội sinh của đất nước. Văn hóa không chỉ là kết quả của sự phát triển mà còn là động lực thúc đẩy phát triển và khi văn hóa thực sự trở thành nhu cầu tự thân của xã hội, đó cũng là lúc con người được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển đất nước.

Xem thêm

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Cỡ chữ bài viết: