Không cấm, nhưng phải quản!

(NB&CL)Dự thảo Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia đã được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 khóa XIV năm 2018, là đã rất chậm so với thực tế đời sống xã hội. Tuy nhiên tới kỳ họp thứ 7, dự thảo Luật lại “yếu dần”, dẫn đến lo ngại về tác dụng không phải “phòng chống”, mà là “thúc đẩy” (!?)...

1. Sáng 9/11/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã  trình Quốc hội Dự án Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia. Dự thảo này đưa ra các chế tài rất mạnh như: Cấm quảng cáo rượu, bia từ 15 độ trở lên dưới mọi hình thức; Cấm ép buộc người dưới 18 tuổi sử dụng rượu, bia; Cấm cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật về tác dụng của rượu, bia đối với sức khoẻ;...

Cộng đồng xã hội ủng hộ ngành rượu, bia, nhưng yêu cầu phải siết chặt việc quảng cáo, phổ biến, độ tuổi sử dụng... Ảnh minh họa

Cộng đồng xã hội ủng hộ ngành rượu, bia, nhưng yêu cầu phải siết chặt việc quảng cáo, phổ biến, độ tuổi sử dụng... Ảnh minh họa

Dự thảo Luật còn quy định các địa điểm không được bán rượu, bia bao gồm cơ sở y tế, giáo dục, nơi vui chơi, giải trí dành cho người dưới 18 tuổi; không được bán rượu, bia trên mạng internet và máy bán hàng tự động…

Được biết, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhiều lần nhắc Bộ Y tế sớm trình Luật phòng chống tác hại rượu bia, rồi phải sau 4 - 5 năm sau Dự Luật mới ra đời. Dù chậm, nhưng đó cũng là cố gắng và quyết tâm bảo vệ tính mạng và sức khỏe của nhân dân trước tác hại của sử dụng bia, rượu. Những nỗ lực ấy của Ban soạn thảo và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ít nhiều được ghi nhận xứng đáng.

Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận ý kiến đóng góp và tiếp thu, chỉnh sửa, Dự Luật trình Quốc hội ngày 23/5 vừa qua đã bỏ quy định cấm bán rượu, bia trên internet, chỉ giữ quy định về điều kiện bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử. Việc quảng cáo rượu, bia dưới 15 độ cồn trên truyền hình được chỉnh lý theo hướng không được quảng cáo trong khoảng thời gian từ 19h đến 20h hằng ngày...

Một số giải pháp “mạnh” ở các dự thảo trước của Luật phòng chống tác hại của rượu, bia bị bỏ hoặc giảm nhẹ ở dự thảo mới trình ra kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, trong khi các vấn nạn xã hội có nguồn gốc do rượu, bia ngày càng báo động.

2. Về sự “yếu đi” này, ĐBQH Phạm Thị Minh Hiền (Phó Giám đốc Sở LĐTB&XH tỉnh Phú Yên) đã vừa bày tỏ, rằng không hiểu vì sao, sau nhiều hội thảo lấy ý kiến, Dự Luật đã mất đi tinh thần cứng rắn của các điều khoản liên quan đến biện pháp phòng chống tác hại rượu, bia. Các căn cứ, cơ sở xây dựng Luật dần xa rời với tình hình thực tiễn, các điều khoản, chế tài có tính răn đe, ngăn ngừa tác hại của rượu, bia cứ yếu dần đi.

Theo bà Minh Hiền, mục tiêu của Dự Luật là phòng chống tác hại rượu, bia, nhưng những giải pháp mang tính ngăn chặn như quy định về cấm quảng cáo, bán rượu, bia trên internet, hạn chế quảng cáo rượu, bia trên báo in... để hạn chế phổ biến loại đồ uống này đã bị đưa ra khỏi dự thảo. Thay vào đó, lại bổ sung quy định cho phép quảng cáo rượu bia trên truyền hình (?).

Cũng theo ĐBQH tỉnh Phú Yên, Dự Luật không xem nền công nghiệp sản xuất rượu, bia là tội đồ. Nhưng bà cho rằng không thể lấy văn hóa, truyền thống để khỏa lấp cho những thiệt hại quá sức nặng nề bởi tác hại của rượu, bia gây ra trong thời gian vừa qua. “Ở Việt Nam, việc sử dụng rượu bia không kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ tương lai. Chúng ta cần phải quản lý, điều chỉnh bằng pháp luật với các biện pháp có tính răn đe cao, không thể thấy khó mà không làm. Tôi nghĩ không nên chần chừ thêm nữa”, bà Hiền chia sẻ.

Những con số không biết nói dối. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy: Năm 2017, Việt Nam là nước tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 châu Á sau Nhật Bản, Trung Quốc. Chi phí của người dân cho tiêu thụ chỉ riêng bia là gần 4 tỷ USD, với khoảng gần 4,1 tỷ lít, bên cạnh đó là khoảng 305 triệu lít rượu.

Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia được kỳ vọng sẽ giảm tải việc lạm dụng đồ uống có cồn. Ảnh minh họa

Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia được kỳ vọng sẽ giảm tải việc lạm dụng đồ uống có cồn. Ảnh minh họa

3. Đáng lo ngại nhất, là song hành với những thứ hạng đau xót trên là hiện thực nhức nhối: Gần 1/5 số vụ TNGT liên quan đến bia, rượu, cùng một tỉ lệ lớn các vụ ẩu đả dẫn đến thương tích, tử vong, các vụ gây rối trật tự xã hội, vi phạm pháp luật sau khi sử dụng rượu, bia…

Theo thống kê mới nhất, trong quý I/2019, toàn quốc xảy ra 4.030 vụ TNGT, làm chết 1.905 người, bị thương 3.141 người. Trong đó nguyên nhân tai nạn do tài xế sử dụng rượu, bia chiếm 1,47% (trên 274 vụ). Cũng trong ba tháng đầu năm, CSGT trên cả nước đã xử lý 38.700 trường hợp vi phạm nồng độ cồn, trong đó có 814 tài xế ôtô.

Có rất nhiều nguyên nhân được chỉ ra, về truyền thống, phong tục, văn hóa,… nhưng không thể chối bỏ việc, ở Việt Nam, rượu, bia rất rẻ và mua thì dễ như… rau.

Về giá, trong khi các nước trong khu vực và châu Âu, giá 1 chai bia bằng giá 2 lít sữa tươi, nhưng Việt Nam thì ngược lại. Giá rượu, bia quá rẻ dẫn tới người dân dễ dàng tiếp cận, sử dụng, tạo áp lực nặng nề lên an toàn giao thông, toàn bộ hệ thống y tế, nền tảng văn hóa và giáo dục con người. Đã có nhiều ý kiến cho rằng cần có quy định về giá bán tối thiểu của bia, rượu (như đối với thuốc lá) để nâng cao hiệu quả của Luật!

Về việc bia rượu bày bán khắp nơi, các ĐBQH đề xuất cần phải hạn chế tiếp cận bia, rượu với người dân, nhất là lớp trẻ. Theo đó, có thể áp dụng lại những quy định từ 15 - 20 năm trước, đó là mỗi loại bia, rượu chỉ được quảng cáo 1 lần/ngày trên 1 báo và cấm quảng cáo từ 19 - 21h hàng ngày để bảo vệ thế hệ trẻ và những người chưa sử dụng các loại đồ uống có cồn.

Một trong những điều mà các ĐBQH, các chuyên gia và cộng đồng lo lắng, là Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia sẽ đi vào cuộc sống như thế nào, khi ta đã không phòng, chống tác hại của thuốc lá thành công? Quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng không thể kiểm soát? Có nghĩa, các điều khoản pháp luật liên quan phải cứng rắn, tỉnh táo, không được duy tình.

Theo dõi diễn tiến Dự thảo Luật, có thể thấy Quốc hội và Bộ Y tế không hề có ý hạn chế sản xuất của ngành rượu bia. Thậm chí, ngành này có thể tăng nguồn thu nếu biện pháp tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia được áp dụng.

Không cấm bia, rượu, nhưng phải quản chặt chẽ bằng các điều, khoản về cấm quảng cáo, hạn chế khu vực bán rượu, bia, độ tuổi khách hàng mua sản phẩm,… để bảo vệ sự bình yên xã hội và chất lượng nòi giống Việt là điều cả Quốc hội và cộng đồng đang mong mỏi, chờ đợi.

An Nhiên

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: