Nới trần làm thêm giờ: Tiếp sức cho doanh nghiệp hồi sức sau COVID-19

Trên thực tế, đề xuất nới trần giờ làm thêm đã từng được đưa ra tại lần sửa đổi Bộ Luật Lao động năm 2019 và nhận được nhiều chiều ý kiến khác nhau. Nay đại dịch COVID-19 một lần nữa đặt ra yêu cầu về việc xem xét nới trần giờ làm thêm tạo cơ hội việc làm cho người lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp hồi phục sau đại dịch.

Việc nới “trần” làm thêm giờ trong thời điểm hiện nay được đánh giá là cần thiết. Tuy nhiên, câu chuyện phải xem xét thấu đáo hơn là thực hiện các quyền lợi, chế độ, chính sách cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động khi tổ chức tăng thời gian làm thêm.

Gỡ khó cho doanh nghiệp hậu COVID-19

Trong tờ trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tăng số giờ làm thêm tối đa, Chính phủ đề xuất tăng thời gian làm thêm từ 40 giờ lên 72 giờ/tháng nhưng không quá 300 giờ/năm, không giới hạn nhóm, ngành nghề, công việc.

Lý giải đề xuất này, Bộ LĐ-TB&XH cho biết, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, đặc biệt đợt dịch lần thứ tư ở Việt Nam diễn ra từ tháng 4/2021 đã tác động mạnh mẽ và nặng nề tới nhiều mặt của đời sống xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến người lao động cũng như doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như các doanh nghiệp ngành du lịch, ngành dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất trong chuỗi cung ứng nhu cầu thiết yếu.

noi tran lam them gio tiep suc cho doanh nghiep hoi suc sau covid 19 hinh 1

Trong năm 2021, đã có hàng triệu người lao động mất việc, lao động trong các ngành kinh tế tiếp tục giảm. Lao động mất việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,3 triệu người (chiếm 33,2%), giảm 254,2 nghìn người so với năm trước; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người (chiếm 37,9%), giảm 800,8 nghìn người so với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 14,2 triệu người (chiếm 28,9%), tăng 37,3 nghìn người so với năm trước.

Sau khi kết thúc giãn cách xã hội, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương đã trở lại trạng thái bình thường mới, thực hiện chuyển hướng chiến lược phòng chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”. Nhưng do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 xảy ra liên tục trong 2 năm qua làm hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ, lao động không có việc làm và thất nghiệp tăng, sự dịch chuyển lao động lớn gây thiếu hụt lao động có trình độ kỹ thuật ở nhiều địa phương.

Trong khi đó, theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động được phép thỏa thuận với người lao động làm thêm không quá 40 giờ/tháng, đồng thời một số ngành, nghề, công việc (như dệt may, da, giày, chế biến thủy hải sản…) được làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ/năm.

Vừa qua, Chính phủ và các bộ ngành, địa phương đã nhận được đề xuất của các doanh nghiệp, hiệp hội, mong muốn được thỏa thuận với người lao động làm thêm giờ để phục hồi sản xuất, bù cho khoảng thời gian phải ngừng việc. Đề xuất tăng thêm giờ làm thêm là một trong giải pháp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, góp phần ổn định sản xuất, kinh doanh, hồi phục và tạo đà phát triển trong thời gian tới.

Giải pháp căn cơ hay tạm thời

Mặc dù đeo đuổi đề xuất tăng giờ làm thêm khá lâu, nhưng không doanh nghiệp nào coi đây là giải pháp căn cơ, tối ưu trong thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong nhiều cuộc trao đổi giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về việc này, các doanh nghiệp thừa nhận, chi phí làm thêm rất cao, từ gấp rưỡi đến gấp 3 lần chi phí trong giờ làm việc bình thường và nguy cơ tai nạn lao động tăng cao là những lý do khiến doanh nghiệp và người lao động cân nhắc trước khi đưa ra quyết định việc làm thêm giờ. Tập đoàn Thủy sản Minh Phú ước tính, sản xuất các sản phẩm trong giờ làm thêm khiến giá thành sản phẩm tăng 20%, nên làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

noi tran lam them gio tiep suc cho doanh nghiep hoi suc sau covid 19 hinh 2

Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp lớn như Minh Phú, Gỗ Trường Thành, Đông Tâm… dành 2 năm COVID-19 để đầu tư đổi mới công nghệ, giảm sự phụ thuộc vào lao động. Nhiều doanh nghiệp cho biết, họ đã trở lại quy mô sản xuất như trước dịch chỉ với 2/3 số lao động, trong đó phần lớn là lao động có tay nghề.

“Nếu không cần, doanh nghiệp sẽ không sử dụng đến số giờ làm thêm dù được phép, vì chi phí đội lên, trong khi giá bán không thể tăng. Lý do doanh nghiệp buộc phải sử dụng làm thêm là yếu tố thời vụ trong sản xuất của nhiều lĩnh vực, như vụ thu hoạch nông sản, thủy sản; yếu tố thời trang như với dệt may, da giày…”, ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP) nói.

Thêm nữa, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ phải cạnh tranh với các đối tác trong nước, nước ngoài để có đơn hàng, mà còn phải chịu áp lực giám sát tính tuân thủ trong các hoạt động của doanh nghiệp từ phía đối tác mua hàng. Chỉ cần một thông tin, dấu hiệu nào về việc doanh nghiệp vi phạm quy định, pháp luật, doanh nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ mất đơn hàng.

Trước khi Bộ luật Lao động hiện hành cho phép các doanh nghiệp dệt may, da giày, chế biến thủy sản được tăng giờ làm thêm lên 300 giờ/năm, thay vì 200 giờ/năm như luật cũ, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã từng nhắc tới những cảnh báo từ các đối tác mua hàng trong ngành dệt may về tỷ lệ 82% doanh nghiệp dệt may vi phạm quy định về giờ làm thêm, dù vào những tháng ít việc, thời gian làm việc của người lao động không đến 8 giờ, doanh nghiệp vẫn phải đủ lương…

Tình thế này rất có thể sẽ lặp lại nếu như các doanh nghiệp có đơn hàng, cần tập trung nguồn lực, nhân lực hoàn tất sau những đợt giãn cách hoặc tạm dừng do thiếu lao động, nhưng người lao động không được phép làm thêm quá 40 giờ/tháng.

Cần hài hòa lợi ích

Trao đổi về nội dung này, ông Lê Đình Quảng - Phó trưởng Ban Chính sách pháp luật (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) cho biết, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một vấn đề hết sức quan trọng, đây cũng là một trong bốn nội dung khi hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2019 đã được các cấp, các ngành rất quan tâm, và được lấy ý kiến rộng rãi.

Thực tế quá trình xây dựng Bộ luật Lao động năm 2019 cho thấy, nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau liên quan tới thời giờ làm việc và làm thêm. Nội dung thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong đó có làm thêm giờ phải biểu quyết đến 2 lần. Nói như vậy để thấy rằng, vấn đề này đã được Quốc hội cân nhắc, thảo luận rất kỹ bởi rất nhiều yếu tố, từ sức khỏe của người lao động, năng suất đến đời sống, thu nhập, các yếu tố liên quan đến làm thêm giờ, cũng như mối quan hệ thấu đáo giữa các bên trong quan hệ lao động.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hơn 2 năm gần đây, doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung đã chịu nhiều tác động nặng nề từ đại dịch COVID-19. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải tạm dừng, bị đứt gãy do giãn cách. Doanh nghiệp mong muốn khôi phục lại sản xuất, nhất là làm thêm giờ để đáp ứng các hoạt động thời gian qua bị gián đoạn cũng như tiến độ các đơn hàng nên có mong muốn điều chỉnh giới hạn làm thêm giờ.

Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thì bản thân người lao động cũng có mong muốn làm thêm giờ, nhưng làm thêm cần cân nhắc về giới hạn. Đánh giá đề xuất của Chính phủ về việc nâng trần làm thêm trong giờ lên 72 giờ/tháng và 300 giờ/năm, áp dụng với tất cả các ngành nghề, ông Lê Đình Quảng khẳng định, về chủ trương thì ông đồng ý, nhưng cũng nên xem lại giới hạn. Mức tăng “trần” làm thêm theo tháng cần vừa phải, ví dụ từ 40 giờ có thể lên thành 60 giờ sẽ phù hợp hơn.

noi tran lam them gio tiep suc cho doanh nghiep hoi suc sau covid 19 hinh 3

Về giới hạn tổng số giờ làm thêm trong năm, theo ông Lê Đình Quảng hiện nay hầu hết các ngành nghề sản xuất có gia công hàng dệt may, da giày, xuất khẩu cần thiết thì đã cho giới hạn làm thêm đến 300 giờ một năm. Còn hiện nay, đề xuất mở rộng cho mọi ngành nghề thì không nên, mà chỉ nên duy trì ở một số nhóm ngành đặc thù, có thể mở rộng thêm một số ngành nghề khác song không phải là tất cả.

Cùng quan điểm nêu trên, ông Bùi Sỹ Lợi - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng, làm thêm giờ là vấn đề thực tế đời sống, rất cần thiết cho cả doanh nghiệp và người lao động, đặc biệt trong bối cảnh 2 năm vừa qua, do đại dịch COVID-19, người lao động rơi vào tình trạng mất hoặc thiếu việc làm, ảnh hưởng đến thu nhập.

Nhưng về bản chất, làm thêm giờ vẫn là kéo dài thời gian lao động, đồng nghĩa với việc tăng cường độ lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe, nếu cho phép kéo dài thời gian làm thêm quá mức. Ông Bùi Sỹ Lợi cho rằng, việc nới “trần” làm thêm giờ cần hài hòa lợi ích các bên trên cơ sở bảo đảm sức khỏe cho người lao động và bù đắp bằng thu nhập hợp lý.

Khánh An

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: