Quyền tiếp cận thông tin của người dân

Quyền tiếp cận thông tin của người dân

Dự thảo Luật tiếp cận thông tin dự kiến trình Chính phủ trong tháng 7-2009, trình Quốc hội lần đầu vào cuối năm 2009 và thông qua vào đầu năm 2010 sẽ trở thành cột mốc quan trọng trong việc thực hiện dân chủ, thể hiện tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Nhà báo & Công luận đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Nguyễn Đăng Dung, giảng viên khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, thành viên Ban Soạn thảo Dự án Luật Tiếp cận thông tin.

Ít có luồng thông tin phản biện

Thưa ông! Tại sao ở nước ta, quyền được tiếp cận thông tin đã được xác định trong Hiến Pháp 1992 nhưng bây giờ mới được cụ thể hóa thành luật?

 Đúng là trong Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 đã có quy định quyền được thông tin của công dân. Theo quy định trong Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã tham gia, quyền được thông tin là một phần của quyền tự do ngôn luận. Thực ra quyền tự do thông tin được quy định trong Hiến pháp 1992 là một quyền rất mới so với trước đây (Hiến pháp năm 1959, 1980 chưa có quy định về quyền này).

Nhiều nước trên thế giới đã cho ra đời luật này từ rất lâu rồi, thậm chí tới 300 trăm năm nay như Thụy Điển. Nhìn thẳng vào thực tế mà nói, chúng ta đã quá chậm trễ?

 Đúng vậy!

Ông có thể nói rõ vì sao ta lại có sự chậm trễ như thế?

 Vì chúng ta chịu ảnh hưởng bởi điều kiện lịch sử. Trong hai cuộc kháng chiến, yêu cầu về thông tin là phải được bảo mật. Các phong trào ba không: không nói, không biết, không tin trong giai đoạn đó được coi là “quốc sách”. Rồi đến thời kỳ tập trung bao cấp, chúng ta cũng chỉ có thông tin một phía. Trong lịch sử phát triển của nước ta hầu như chỉ có nhu cầu tuyên truyền một chiều từ Trung ương xuống cho người dân. Người dân luôn là người bị động. Đó dường như là một thói quen “sâu rễ bền gốc” tới tận bây giờ.

Đó có phải là nguyên nhân dẫn đến một thực tế đang diễn ra: thông tin thường được tuyên truyền theo một phía và rất ít thông tin phản biện, thưa ông?

Có thể nói thế này, thông tin bao giờ cũng phải từ hai phía: Thứ nhất là sự tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người dân. Thứ hai là tâm tư, nguyện vọng của người dân; đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về hành vi sai trái của cán bộ, công chức Nhà nước… Vế thư hai này hiện chưa thực sự được coi trọng. Tức là ít có phản biện từ phía người dân. Các thông tin được công khai cho đến hiện nay thường là trên tinh thần “hướng lên trên” mà quên “nhìn xuống dưới”.

 Bưng bít thông tin là nuôi dưỡng tham nhũng

Ông từng nói, quyền tiếp cận thông tin là thứ quyền thời thượng, quyền quý tộc và cũng có những người đánh giá rằng đó là thứ quyền khá nhạy cảm. Có phải vì thế, việc tiếp cận thông tin của người dân bị cản trở, bởi những lý do cũng được xếp vào loại “nhạy cảm”?

 Thông tin về nguyên tắc là phải mở, đầu tiên là Chính phủ phải mở, cơ cấu tổ chức phải mở, các quyết định phải mở để mọi người đều biết, và dễ tiếp cận khi cần thiết.

Trong bộ máy nhà nước có 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, các cơ quan hành pháp là thiếu sự “mở” nhất bởi chúng ta hoạt động vẫn theo cơ chế thủ trưởng, quyết định được đưa ra không có sự bàn bạc hoặc có bàn bạc đi chăng nữa, thì khi quyết định, người thủ trưởng vẫn là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân. Thế nên mới có chuyện, trong khi luật quy định tham nhũng 500 triệu có thể dẫn tới án tử hình thì các quyết định hành chính có khi làm mất của người dân hàng tỷ đồng, thu lợi cho một cá nhân hàng tỷ đồng thì lại bị “ỉm” đi và chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Câu trả lời chính là sự bưng bít thông tin của một số cơ quan công quyền.

Ông có cho rằng, chuyện bưng bít thông tin chính là mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng và lạm quyền?

Việc bưng bít thông tin diễn ra rõ nhất trên các lĩnh vực đất đai, đền bù giải tỏa, dự án ưu đãi… Lòng dân hiện nay còn bất an vì tham nhũng, vì khiếu nại đất đai. Mà nguyên nhân chủ yếu của các vụ khiếu kiện đất đai là do chính quyền không thông tin kịp thời, đầy đủ đến dân. Hay như trong vấn đề quy hoạch đất đai, đặc biệt là giai đoạn trước đây, vì không công khai, minh bạch nên nhiều đối tượng đã trục lợi rất lớn từ việc này.

 Cuộc chiến giữa công khai và bí mật

Ông đã từng thẳng thắn: Quyền tự do thông tin rải rác trong các luật nhưng không “lại” được với Pháp lệnh Bí mật của Nhà nước. Ông có thể nói cụ thể hơn về điều này?

Tôi hình dung cái Pháp lệnh Bí mật là một pháo đài kiên cố “bất khả xâm phạm” còn quyền tự do thông tin lại là một căn nhà tranh nhỏ bé, tuềnh toàng… Chúng ta không những có Pháp lệnh Bí mật Nhà nước, mà còn có cả những hướng dẫn của các văn bản dưới luật rất cụ thể để các cơ quan thực th nhiệm vụ giữ gìn bí mật Nhà nước. Nhưng điều đáng nghi ngại ở đây là những bí mật này đều do chính cơ quan Nhà nước đề xuất. Các cơ quan này “vin” vào nguyên tắc “cẩn tắc vô áy náy đó để “bảo mật” tràn lan. Một động tác rất nhỏ nhưng bắn được nhiều mục đích. Dễ làm, vì quen như thế và nhất là lại chẳng bao giờ phải lo vi phạm vấn đề để lộ bí mật quốc gia.

Ngược lại các quy định về công khai thông tin cho đến nay đã được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật: Như Luật Đất đai, Luật bảo vệ Môi trường, Luật Phòng chống Tham nhũng, Luật Kiểm toán …. một cách chung chung, với mục đích thi hành những đạo luật kể trên được thuận lợi.

Điểm rất thiếu của các quy định trên là vắng bóng các thủ tục thực hiện các quyền và trách nhiệm cung cấp thông tin, như hình thức yêu cầu tiếp cận, hình thức cung cấp thông tin, thời hạn thực hiện chúng. … Hạn chế này khiến cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân càng khó có thể thực thi, mà nếu không làm thì lại là kẽ hở rất lớn cho người khác lợi dụng.

Tình trạng “người cung cấp nói là “mật”, người yêu cầu lại bảo không” vẫn còn, cuộc giằng xé giữa công khai và bí mật vẫn còn chưa ngã ngũ. Đây có là những bất lợi cho việc xây dựng Dự luật Tiếp cận thông tin, thưa ông?

 Đúng vậy. Một trong những điểm khó nhất khi xây dựng Dự luật Tiếp cận thông tin này chính là việc xác định ranh giới giữa cái “mật” và “không mật”. Cái cần công khai lại bị giữ bí mật (như quy hoạch đô thị bị giữ bí mật nên nhiều người được lợi và nhiều người bị thiệt không chính đáng), nhưng có những thông tin đang trong giai đoạn phải giữ bí mật thì lại công khai, tạo thành dư luận xấu trong xã hội, gây ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của các cơ quan công quyền (nhất là quá trình tố tụng).

Việc lạm dụng dấu “mật” gây không ít khó khăn trong quá trình khai thác thông tin của các nhà báo. Vậy luật tiếp cận thông tin có ra đời sẽ tác động như thế nào tới truyền thông báo chí?

 Báo chí là một kênh để người dân tiếp cận thông tin. Bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của báo chí cũng là bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công chúng. Chúng tôi sẽ có những quy định cụ thể loại thông tin, tài liệu nào cần được công khai, loại thông tin, tài liệu nào là mật. Nghĩa là không phải bất cứ thông tin nào mà anh không muốn cho người khác biết thì anh cũng có thể đóng dấu “mật”. Chúng tôi sẽ quy định dựa vào lợi ích cá nhân và lợi ích quốc gia dân tộc.

Cuộc cách mạng thông tin

Trong buổi lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo luật Tiếp cận thông tin vừa qua, một người dân cho ý kiến rằng: “Dân không đói ăn, đói mặc mà đói thông tin. Có thể xếp chúng tôi vào diện nghèo hoặc cận nghèo với thông tin”. Ông có suy nghĩ gì về câu nói chua chát nhưng tiếc thay lại rất chính xác này?

 Tôi đã hơn một lần phát biểu: Quyền lực trong xã hội xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng trong thời hiện đại quyền lực quan trọng nhất là ai nắm được thông tin và xử lý thông tin. Thông tin là tiền bạc, thông tin là sức khoẻ, thông tin là rất nhiều thứ. Nếu anh không nắm được thông tin, anh có thể mất tiền bạc, mất danh dự, mất sức khoẻ thậm chí là mất cả tính mạng. Người dân này đã nâng vấn đề cao hơn, quyền tiếp cận thông tin gắn với niềm tin của người dân với Đảng, tôi hết sức thán phục. Vấn đề người dân phản ánh là điều mà các cấp lãnh đạo đáng phải suy nghĩ. Chỗ này tôi còn muốn có thể bổ sung thêm ý nghĩa của luật này ở chỗ quyền thông tin sẽ tạo đà cho sự phát triển của xã hội Việt Nam nói chung, và xóa đi sự nghèo đói nói riêng cho từng người. Đó cũng là mong muốn của Đảng và Nhà nước ta.

Có ý kiến nghi ngại rằng: Nếu chỉ soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin theo kiểu “nêu vấn đề” mà chưa rõ biện pháp chế tài thì có thể nhiều nội dung trong dự luật chỉ để “nói cho oai”?

 Hiện nay ở Việt Nam thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc công khai thông tin đã dẫn đến tình trạng lợi dụng đặc quyền, đặc lợi của một số cá nhân, tổ chức có quyền, gây ra sự bất bình đẳng, công bằng trong xã hội. khi phát hiện thì lại bị “đánh bài lờ” không đưa ra biện pháp xử lý. Các quy định về quyền được thông tin của người dân đã được thể hiện khá phong phú trong các văn bản pháp lý như Hiến pháp 1992, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Báo chí... Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này từ trước đến nay tỏ ra kém hiệu quả, mà nguyên nhân chính là thiếu chế tài xử lý vi phạm.

Tôi cho rằng luật tiếp cận thông tin sẽ là một cuộc cách mạng về thông tin giải quyết triệt để vấn đề này. Nó không chỉ quy định hành vi nào là đúng, hành vi nào là sai mà sẽ có cả những chế tài xử lý vi phạm tương ứng. Nếu có trách nhiệm không cung cấp, cung cấp sai hoặc cung cấp thông tin không đúng hạn thì anh phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước, thậm chí có thể phải ra tòa. Không đơn giản chỉ dừng lại ở việc từ chức, bãi nhiệm, bãi miễn... mà có thể phải lãnh án tùy mức độ nặng nhẹ.

Về phía người dân, Luật sẽ làm thế nào để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của họ, thưa ông?

Luật tiếp cận thông tin sẽ quy định cụ thể thủ tục làm việc với chính quyền để người dân không còn lúng túng, không còn bị “lừa”, để các công chức không còn thái độ “đùn đẩy”, “hách dịch”. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là người dân Việt Nam chúng ta quen nếp thụ động nên nhiều khi có thái độ “mặc kệ” trước thông tin, chỉ khi động tới lợi ích của mình, mới “nhảy dựng lên”… thì đã muộn.

Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng người dân sẽ hình thành một thói quen mới: chủ động đón và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.

Xin cám ơn ông!

 Hà Vân (thực hiện)

Xem thêm

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

(CLO) Một năm trước, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai trên phạm vi cả nước, cùng với quyết tâm tinh gọn tổ chức bộ máy là hàng loạt băn khoăn về những tác động trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc nhiều cán bộ, công chức, viên chức xin nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của dư luận. Có người coi đây là kết quả tất yếu của quá trình sàng lọc đội ngũ, cũng có người lo ngại bộ máy sẽ thiếu hụt những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm đúng vào thời điểm chính quyền cơ sở được giao nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn.

Báo chí Việt Nam - Người đến sau có trách nhiệm!

Báo chí Việt Nam - Người đến sau có trách nhiệm!

(CLO) Vòng xoáy công nghệ có lẽ chẳng bao giờ có điểm dừng. Báo chí bây giờ và trong tương lai vẫn sẽ từng ngày đối mặt với áp lực buộc mình đổi mới. Nhưng dù có ở nền tảng công nghệ nào, dù kỹ thuật làm báo có phát triển đến đâu, thì có những giá trị cốt lõi của báo chí cũng không thể mất và không được phép mất. Như một chiếc la bàn, Báo chí cách mạng có thể định hướng dư luận, góp phần gìn giữ sự ổn định xã hội và vun đắp niềm tin vào sự thật. Mạng xã hội có thể là “mạch máu” kết nối thông tin, nhưng Báo chí cách mạng chính là “trái tim” giữ nhịp đập lý trí và trách nhiệm trong đời sống truyền thông hiện đại, để luôn là một người đến sau có trách nhiệm!

Giữ chủ quyền trên không gian mạng: Từ tư duy đến hành động

Giữ chủ quyền trên không gian mạng: Từ tư duy đến hành động

(NB&CL) Từ cảnh báo về nguy cơ mất an toàn dữ liệu đến yêu cầu xây dựng “thế trận an ninh mạng chủ động, toàn diện”, Chỉ thị số 57-CT/TW đã đặt ra một định hướng chiến lược rõ ràng cho bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số. Nhưng để biến định hướng ấy thành năng lực phòng thủ thực chất vẫn là bài toán lớn, đòi hỏi sự đồng bộ về công nghệ, nhân lực, thể chế pháp lý và khả năng tự chủ dữ liệu trong bối cảnh các nguy cơ an ninh mạng ngày càng phức tạp và khó lường.

Cần những “lá chắn phòng thủ” mới

Cần những “lá chắn phòng thủ” mới

(NB&CL) Một đường điện bị tê liệt có thể làm cả thành phố tối đèn. Một tuyến giao thông đứt gãy có thể khiến nền kinh tế chao đảo. Nhưng trong thời đại số, chỉ một cuộc tấn công mạng vào trung tâm dữ liệu, hệ thống ngân hàng hay nền tảng điều hành quốc gia cũng có thể tạo ra những xáo trộn không kém một cuộc khủng hoảng ngoài đời thực. Không gian mạng giờ đây đã trở thành phần lãnh thổ đặc biệt, gắn trực tiếp với chủ quyền quốc gia, năng lực quản trị và niềm tin xã hội.

Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam: Cơ hội định giá lại nông sản Việt Nam

Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam: Cơ hội định giá lại nông sản Việt Nam

(NB&CL) Trong nhiều năm qua, Việt Nam đứng trong nhóm xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới về sản lượng, nhưng giá trị thu về vẫn chưa tương xứng. Phần lớn các mặt hàng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, gạo… vẫn phụ thuộc vào giá niêm yết trên sàn quốc tế, khiến doanh nghiệp và nông dân trong nước luôn ở thế bị động. Chuyên gia nhận định: Việt Nam dẫn đầu thế giới nhiều mặt hàng nông sản nhưng thiếu sàn giao dịch thực thụ, gây lãng phí nguồn lực và đánh mất quyền định đoạt giá bán.

Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Từ đối thoại khu vực đến dấu ấn một Việt Nam chủ động kiến tạo

Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Từ đối thoại khu vực đến dấu ấn một Việt Nam chủ động kiến tạo

(NB&CL) Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) 2026 được tổ chức tại Hà Nội (từ ngày 9-10/6/2026) vào đúng thời điểm khu vực đang đứng trước những yêu cầu mới về tự cường, đổi mới và thích ứng với các biến động toàn cầu. Trong dòng chảy đó, AFF không chỉ là một sự kiện đối ngoại quan trọng của ASEAN mà còn cho thấy vai trò ngày càng chủ động của Việt Nam trong việc khởi xướng, duy trì và làm sâu sắc thêm các không gian đối thoại khu vực.

Việc tử tế - Bông hoa đẹp của thi đua yêu nước

Việc tử tế - Bông hoa đẹp của thi đua yêu nước

(CLO) Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp mặt 100 điển hình tiên tiến trong Chương trình “Việc tử tế” của Đài Truyền hình Việt Nam. Đây không chỉ là hoạt động tôn vinh những con người bình dị mà cao quý, mà còn là dịp để xã hội nhìn lại, trân trọng và lan tỏa những giá trị nhân văn tốt đẹp đang hiện hữu trong đời sống hằng ngày.

Tương lai đất nước bắt đầu từ người lao động hôm nay

Tương lai đất nước bắt đầu từ người lao động hôm nay

(CLO) Trong nhiều thập niên qua, người lao động Việt Nam từng đối mặt với không ít biến động của nền kinh tế. Nhưng có lẽ chưa bao giờ câu chuyện tương lai nghề nghiệp lại được đặt ra rõ ràng như hôm nay, khi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số đang làm thay đổi cách con người làm việc và tạo ra giá trị. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ một nhiệm kỳ đại hội.

Cỡ chữ bài viết: