Quyền tiếp cận thông tin của người dân

Quyền tiếp cận thông tin của người dân

Dự thảo Luật tiếp cận thông tin dự kiến trình Chính phủ trong tháng 7-2009, trình Quốc hội lần đầu vào cuối năm 2009 và thông qua vào đầu năm 2010 sẽ trở thành cột mốc quan trọng trong việc thực hiện dân chủ, thể hiện tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Nhà báo & Công luận đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Nguyễn Đăng Dung, giảng viên khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, thành viên Ban Soạn thảo Dự án Luật Tiếp cận thông tin.

Ít có luồng thông tin phản biện

Thưa ông! Tại sao ở nước ta, quyền được tiếp cận thông tin đã được xác định trong Hiến Pháp 1992 nhưng bây giờ mới được cụ thể hóa thành luật?

 Đúng là trong Điều 69 của Hiến pháp năm 1992 đã có quy định quyền được thông tin của công dân. Theo quy định trong Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã tham gia, quyền được thông tin là một phần của quyền tự do ngôn luận. Thực ra quyền tự do thông tin được quy định trong Hiến pháp 1992 là một quyền rất mới so với trước đây (Hiến pháp năm 1959, 1980 chưa có quy định về quyền này).

Nhiều nước trên thế giới đã cho ra đời luật này từ rất lâu rồi, thậm chí tới 300 trăm năm nay như Thụy Điển. Nhìn thẳng vào thực tế mà nói, chúng ta đã quá chậm trễ?

 Đúng vậy!

Ông có thể nói rõ vì sao ta lại có sự chậm trễ như thế?

 Vì chúng ta chịu ảnh hưởng bởi điều kiện lịch sử. Trong hai cuộc kháng chiến, yêu cầu về thông tin là phải được bảo mật. Các phong trào ba không: không nói, không biết, không tin trong giai đoạn đó được coi là “quốc sách”. Rồi đến thời kỳ tập trung bao cấp, chúng ta cũng chỉ có thông tin một phía. Trong lịch sử phát triển của nước ta hầu như chỉ có nhu cầu tuyên truyền một chiều từ Trung ương xuống cho người dân. Người dân luôn là người bị động. Đó dường như là một thói quen “sâu rễ bền gốc” tới tận bây giờ.

Đó có phải là nguyên nhân dẫn đến một thực tế đang diễn ra: thông tin thường được tuyên truyền theo một phía và rất ít thông tin phản biện, thưa ông?

Có thể nói thế này, thông tin bao giờ cũng phải từ hai phía: Thứ nhất là sự tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người dân. Thứ hai là tâm tư, nguyện vọng của người dân; đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về hành vi sai trái của cán bộ, công chức Nhà nước… Vế thư hai này hiện chưa thực sự được coi trọng. Tức là ít có phản biện từ phía người dân. Các thông tin được công khai cho đến hiện nay thường là trên tinh thần “hướng lên trên” mà quên “nhìn xuống dưới”.

 Bưng bít thông tin là nuôi dưỡng tham nhũng

Ông từng nói, quyền tiếp cận thông tin là thứ quyền thời thượng, quyền quý tộc và cũng có những người đánh giá rằng đó là thứ quyền khá nhạy cảm. Có phải vì thế, việc tiếp cận thông tin của người dân bị cản trở, bởi những lý do cũng được xếp vào loại “nhạy cảm”?

 Thông tin về nguyên tắc là phải mở, đầu tiên là Chính phủ phải mở, cơ cấu tổ chức phải mở, các quyết định phải mở để mọi người đều biết, và dễ tiếp cận khi cần thiết.

Trong bộ máy nhà nước có 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, các cơ quan hành pháp là thiếu sự “mở” nhất bởi chúng ta hoạt động vẫn theo cơ chế thủ trưởng, quyết định được đưa ra không có sự bàn bạc hoặc có bàn bạc đi chăng nữa, thì khi quyết định, người thủ trưởng vẫn là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân. Thế nên mới có chuyện, trong khi luật quy định tham nhũng 500 triệu có thể dẫn tới án tử hình thì các quyết định hành chính có khi làm mất của người dân hàng tỷ đồng, thu lợi cho một cá nhân hàng tỷ đồng thì lại bị “ỉm” đi và chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Câu trả lời chính là sự bưng bít thông tin của một số cơ quan công quyền.

Ông có cho rằng, chuyện bưng bít thông tin chính là mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng và lạm quyền?

Việc bưng bít thông tin diễn ra rõ nhất trên các lĩnh vực đất đai, đền bù giải tỏa, dự án ưu đãi… Lòng dân hiện nay còn bất an vì tham nhũng, vì khiếu nại đất đai. Mà nguyên nhân chủ yếu của các vụ khiếu kiện đất đai là do chính quyền không thông tin kịp thời, đầy đủ đến dân. Hay như trong vấn đề quy hoạch đất đai, đặc biệt là giai đoạn trước đây, vì không công khai, minh bạch nên nhiều đối tượng đã trục lợi rất lớn từ việc này.

 Cuộc chiến giữa công khai và bí mật

Ông đã từng thẳng thắn: Quyền tự do thông tin rải rác trong các luật nhưng không “lại” được với Pháp lệnh Bí mật của Nhà nước. Ông có thể nói cụ thể hơn về điều này?

Tôi hình dung cái Pháp lệnh Bí mật là một pháo đài kiên cố “bất khả xâm phạm” còn quyền tự do thông tin lại là một căn nhà tranh nhỏ bé, tuềnh toàng… Chúng ta không những có Pháp lệnh Bí mật Nhà nước, mà còn có cả những hướng dẫn của các văn bản dưới luật rất cụ thể để các cơ quan thực th nhiệm vụ giữ gìn bí mật Nhà nước. Nhưng điều đáng nghi ngại ở đây là những bí mật này đều do chính cơ quan Nhà nước đề xuất. Các cơ quan này “vin” vào nguyên tắc “cẩn tắc vô áy náy đó để “bảo mật” tràn lan. Một động tác rất nhỏ nhưng bắn được nhiều mục đích. Dễ làm, vì quen như thế và nhất là lại chẳng bao giờ phải lo vi phạm vấn đề để lộ bí mật quốc gia.

Ngược lại các quy định về công khai thông tin cho đến nay đã được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật: Như Luật Đất đai, Luật bảo vệ Môi trường, Luật Phòng chống Tham nhũng, Luật Kiểm toán …. một cách chung chung, với mục đích thi hành những đạo luật kể trên được thuận lợi.

Điểm rất thiếu của các quy định trên là vắng bóng các thủ tục thực hiện các quyền và trách nhiệm cung cấp thông tin, như hình thức yêu cầu tiếp cận, hình thức cung cấp thông tin, thời hạn thực hiện chúng. … Hạn chế này khiến cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân càng khó có thể thực thi, mà nếu không làm thì lại là kẽ hở rất lớn cho người khác lợi dụng.

Tình trạng “người cung cấp nói là “mật”, người yêu cầu lại bảo không” vẫn còn, cuộc giằng xé giữa công khai và bí mật vẫn còn chưa ngã ngũ. Đây có là những bất lợi cho việc xây dựng Dự luật Tiếp cận thông tin, thưa ông?

 Đúng vậy. Một trong những điểm khó nhất khi xây dựng Dự luật Tiếp cận thông tin này chính là việc xác định ranh giới giữa cái “mật” và “không mật”. Cái cần công khai lại bị giữ bí mật (như quy hoạch đô thị bị giữ bí mật nên nhiều người được lợi và nhiều người bị thiệt không chính đáng), nhưng có những thông tin đang trong giai đoạn phải giữ bí mật thì lại công khai, tạo thành dư luận xấu trong xã hội, gây ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của các cơ quan công quyền (nhất là quá trình tố tụng).

Việc lạm dụng dấu “mật” gây không ít khó khăn trong quá trình khai thác thông tin của các nhà báo. Vậy luật tiếp cận thông tin có ra đời sẽ tác động như thế nào tới truyền thông báo chí?

 Báo chí là một kênh để người dân tiếp cận thông tin. Bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của báo chí cũng là bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công chúng. Chúng tôi sẽ có những quy định cụ thể loại thông tin, tài liệu nào cần được công khai, loại thông tin, tài liệu nào là mật. Nghĩa là không phải bất cứ thông tin nào mà anh không muốn cho người khác biết thì anh cũng có thể đóng dấu “mật”. Chúng tôi sẽ quy định dựa vào lợi ích cá nhân và lợi ích quốc gia dân tộc.

Cuộc cách mạng thông tin

Trong buổi lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo luật Tiếp cận thông tin vừa qua, một người dân cho ý kiến rằng: “Dân không đói ăn, đói mặc mà đói thông tin. Có thể xếp chúng tôi vào diện nghèo hoặc cận nghèo với thông tin”. Ông có suy nghĩ gì về câu nói chua chát nhưng tiếc thay lại rất chính xác này?

 Tôi đã hơn một lần phát biểu: Quyền lực trong xã hội xuất hiện ở nhiều nơi, nhưng trong thời hiện đại quyền lực quan trọng nhất là ai nắm được thông tin và xử lý thông tin. Thông tin là tiền bạc, thông tin là sức khoẻ, thông tin là rất nhiều thứ. Nếu anh không nắm được thông tin, anh có thể mất tiền bạc, mất danh dự, mất sức khoẻ thậm chí là mất cả tính mạng. Người dân này đã nâng vấn đề cao hơn, quyền tiếp cận thông tin gắn với niềm tin của người dân với Đảng, tôi hết sức thán phục. Vấn đề người dân phản ánh là điều mà các cấp lãnh đạo đáng phải suy nghĩ. Chỗ này tôi còn muốn có thể bổ sung thêm ý nghĩa của luật này ở chỗ quyền thông tin sẽ tạo đà cho sự phát triển của xã hội Việt Nam nói chung, và xóa đi sự nghèo đói nói riêng cho từng người. Đó cũng là mong muốn của Đảng và Nhà nước ta.

Có ý kiến nghi ngại rằng: Nếu chỉ soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin theo kiểu “nêu vấn đề” mà chưa rõ biện pháp chế tài thì có thể nhiều nội dung trong dự luật chỉ để “nói cho oai”?

 Hiện nay ở Việt Nam thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc công khai thông tin đã dẫn đến tình trạng lợi dụng đặc quyền, đặc lợi của một số cá nhân, tổ chức có quyền, gây ra sự bất bình đẳng, công bằng trong xã hội. khi phát hiện thì lại bị “đánh bài lờ” không đưa ra biện pháp xử lý. Các quy định về quyền được thông tin của người dân đã được thể hiện khá phong phú trong các văn bản pháp lý như Hiến pháp 1992, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Báo chí... Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này từ trước đến nay tỏ ra kém hiệu quả, mà nguyên nhân chính là thiếu chế tài xử lý vi phạm.

Tôi cho rằng luật tiếp cận thông tin sẽ là một cuộc cách mạng về thông tin giải quyết triệt để vấn đề này. Nó không chỉ quy định hành vi nào là đúng, hành vi nào là sai mà sẽ có cả những chế tài xử lý vi phạm tương ứng. Nếu có trách nhiệm không cung cấp, cung cấp sai hoặc cung cấp thông tin không đúng hạn thì anh phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước, thậm chí có thể phải ra tòa. Không đơn giản chỉ dừng lại ở việc từ chức, bãi nhiệm, bãi miễn... mà có thể phải lãnh án tùy mức độ nặng nhẹ.

Về phía người dân, Luật sẽ làm thế nào để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của họ, thưa ông?

Luật tiếp cận thông tin sẽ quy định cụ thể thủ tục làm việc với chính quyền để người dân không còn lúng túng, không còn bị “lừa”, để các công chức không còn thái độ “đùn đẩy”, “hách dịch”. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là người dân Việt Nam chúng ta quen nếp thụ động nên nhiều khi có thái độ “mặc kệ” trước thông tin, chỉ khi động tới lợi ích của mình, mới “nhảy dựng lên”… thì đã muộn.

Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng người dân sẽ hình thành một thói quen mới: chủ động đón và xử lý thông tin một cách nhanh chóng.

Xin cám ơn ông!

 Hà Vân (thực hiện)

Xem thêm

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Cỡ chữ bài viết: