Thúc đẩy sự phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam: Bao giờ tiềm năng thành hiện thực?

Hai đêm nhạc của các cô gái đen - hồng đã khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn phủ sóng mạng xã hội qua những khen chê, tranh cãi. Đến tận hôm nay, khán giả vẫn nói về các cô gái xinh đẹp này. Họ đã chiếm sóng truyền thông Việt Nam suốt một thời gian dài, đây là điều mà không một nghệ sĩ nào hay một show diễn nào Việt Nam làm được. Nhưng dù khen chê tranh cãi, vẫn không thể không thừa nhận sức ảnh hưởng của các thần tượng (idol) Hàn Quốc là rất lớn, nhưng đằng sau đó còn là sự ảnh hưởng của nền công nghiệp văn hóa từ xứ sở Kim Chi. Trông người lại ngẫm đến ta, ngành công nghiệp giải trí Việt Nam mà sâu xa hơn là nền công nghiệp văn hóa hiện sở hữu nhiều tiềm năng nhưng cần có cách tiếp cận đa chiều hơn để thành công tiến ra thị trường thế giới.

Tiềm năng vẫn chờ đánh thức

Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là “chất liệu” cho công nghiệp văn hóa Việt Nam khởi sắc nhưng “mỏ vàng” ấy cần được đầu tư đúng cách thì mới khơi dậy hết tiềm năng. Việc chất xám “bị đánh cắp” hay những rào cản trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa “made in Việt Nam” với các sản phẩm ngoại không phải là câu chuyện mới. Vậy công nghiệp văn hóa là gì, liệu chúng ta đã ý thức được giá trị của “viên ngọc thô” này và có sự chăm chút xứng đáng để nó tỏa sáng?

Mọi quốc gia đều có nền văn hóa - nghệ thuật nhưng không phải quốc gia nào cũng có công nghiệp văn hóa. Tiến sỹ Nguyễn Thị Quý Phương (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các Cơ quan Trung ương) cho rằng chúng ta đang nói tới một nền công nghiệp văn hóa được gọi tên mà chưa được định hình.

thuc day su phat trien cong nghiep van hoa o viet nam bao gio tiem nang thanh hien thuc hinh 1

Theo định nghĩa của UNESCO, công nghiệp văn hóa là một phần của ngành công nghiệp sáng tạo, được hình thành từ sự kết hợp của sáng tạo, quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ thuộc về văn hóa và được các quyền sở hữu trí tuệ bảo vệ. 

Lấy ví dụ để hình thành công nghiệp điện ảnh, bà Quý Phương cho rằng phải có sự liên kết một cách đồng bộ, chuyên nghiệp giữa thành phần sáng tạo điện ảnh là đạo diễn, biên kịch, diễn viên..., khai thác giá trị văn hóa của dân tộc, kết hợp với sử dụng các công nghệ tiên tiến và kỹ năng kinh doanh là xây dựng thương hiệu cho bộ phim, đạo diễn, diễn viên, tổ chức sự kiện, phát triển khán giả...

Phó giáo sư, tiến sỹ Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội đồng tình với quan điểm trên. Ông cho hay tại Việt Nam, cơ cấu của công nghiệp văn hóa gồm 12 ngành: Điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa; quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ.

Theo thống kê của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công bố năm 2017, doanh thu của ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo toàn cầu là 2,25 nghìn tỷ USD, mang lại 29,5 triệu việc làm, tức là nhiều hơn cả ngành công nghiệp xe hơi của châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cộng lại (25 triệu). Riêng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, doanh thu của ngành này là 743 tỷ USD và tạo việc làm cho 12,7 triệu lao động.

Theo số liệu của UNESCO, năm 2017, các ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc đóng góp 4,23% vào GDP quốc gia, tăng 12,8% so với năm 2016 và tạo ra 21,4 triệu việc làm. Trong khi đó, các sản phẩm của làn sóng giải trí Hàn Quốc (Hallyu) đã đóng góp 10,8 tỷ USD vào GDP theo thống kê năm 2019. Tính đến tháng 8/2020, Hàn Quốc đã thành lập 32 Trung tâm Văn hóa tại 28 quốc gia trên khắp châu Phi, châu Á - Thái Bình Dương, châu Âu và châu Mỹ để quảng bá Hallyu. Bằng cách đó, “sức mạnh mềm” của Hàn Quốc đã lan tỏa khắp toàn cầu. Có thể thấy, Hàn Quốc đã xây dựng được “đế chế” văn hóa, giải trí khiến cả thế giới kinh ngạc.

Lý giải sự thành công này, TS Đặng Thiếu Ngân - chuyên gia hàng đầu về làn sóng Hàn lưu (Hallyu) chỉ ra: Từ những năm đầu thập niên 1990, những người làm trong ngành công nghiệp âm nhạc Kpop như nhà sản xuất, các công ty giải trí, các quan chức quản lý về luật định... đã có rất nhiều nghiên cứu, thảo luận, xây dựng mô hình và đánh giá từ các thực tế để ngày càng hoàn thiện và tiếp cận đến phạm vi khán giả rộng lớn hơn.

Họ không ngừng làm mới bản thân, sẵn sàng đầu tư để học hỏi từ những nền công nghiệp âm nhạc, giải trí tiên tiến, đồ sộ.Họ chấp nhận những khái niệm từ văn hóa toàn cầu rồi sau đó “Hàn hóa” để ngày càng hoàn thiện Kpop chỉn chu hơn, hấp dẫn hơn, độc đáo hơn. Sự nổi tiếng và ảnh hưởng toàn cầu của các nhóm nhạc như BTS, BLACKPINK... đằng sau đó là sức ảnh hưởng của một nền công nghiệp âm nhạc lớn mạnh.

Nhìn về những nỗ lực của xây dựng công nghiệp văn hóa tại Việt Nam, chúng ta đã và đang dần có được những nhân tố có thể vươn ra thế giới nhưng nếu chỉ trông chờ vào những nỗ lực, mong muốn của một vài cá nhân kiểu như “See tình”  của Hoàng Thuỳ Linh thì rất khó. Âm nhạc Việt Nam muốn vươn ra thế giới, muốn có những BTS, BLACKPINK thì cần có chính sách phát triển bền vững ở tầm quốc gia.

Những con số này cho thấy công nghiệp văn hóa đang là “con gà đẻ trứng vàng” tại nhiều quốc gia và mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn sẽ là hướng đi thức thời của Việt Nam.

Theo ông Bùi Hoài Sơn, Việt Nam chưa đầu tư cho văn hóa một cách tương xứng. Hay nói cách khác, 12 ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam chưa phát triển theo hướng kinh tế thị trường.

Nguồn lực đầu tư cho văn hóa còn hạn hẹp, chưa đồng bộ và hiệu quả. Mục tiêu 2010 đầu tư cho văn hóa đạt 1,8% ngân sách, nhưng đến năm 2019, Chính phủ báo cáo mới chỉ được 1,71%. Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 là 1,12% ngân sách là chưa tương xứng với mục tiêu chấn hưng văn hóa”, ông Sơn nêu ý kiến. Nguồn lực trong lĩnh vực văn hóa thể hiện ở 3 yếu tố: Cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực thì cả 3 yếu tố này đều chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

thuc day su phat trien cong nghiep van hoa o viet nam bao gio tiem nang thanh hien thuc hinh 2

“Việc tồn tại các ngành nghệ thuật không bảo đảm rằng các ngành này đương nhiên trở thành các ngành công nghiệp văn hóa. Chúng ta phải quan niệm các sản phẩm văn hóa là hàng hóa, đáp ứng các quy luật thị trường để có chiến lược kinh doanh phù hợp bối cảnh xã hội. Muốn vậy, công tác thống kê phải đánh giá đúng thực trạng sự phát triển của văn hóa”, ông Sơn nói.

Còn rất nhiều thành tựu của ngành văn hóa nước nhà không được thống kê, chẳng hạn như chỉ số phát triển của ngành công nghiệp thời trang Việt Nam. Tương tự, ngành sáng tạo phần mềm và game được xác định là ngành công nghiệp không khói tỷ đô với giá trị thặng dư siêu ngạch, song thống kê về sự hình thành và phát triển của lĩnh vực này hoàn toàn không có. 

Nêu ý kiến để xây dựng “nền móng” cho công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, TS Đặng Thiếu Ngân cho rằng: “Việt Nam cũng có rất nhiều chất liệu, tiềm năng con người để khai thác. Nhưng để đặt được nền móng “công nghiệp”, chúng ta cần phải có sự liên kết một cách đồng bộ, chuyên nghiệp thành một hệ thống giữa các thành phần sáng tạo nghệ thuật, phát hành, phân phối và quảng bá các sản phẩm, cũng như những chính sách hỗ trợ của Nhà nước (thuế, kết nối nước ngoài, tổ chức các sự kiện văn hoá lớn...) dành cho những đơn vị này hay những luật định cụ thể và rõ ràng để những người làm nghề có cái nhìn rõ ràng, cụ thể hơn khi vận hành.

Ngoài ra, muốn có thành công để xây dựng nền công nghiệp văn hóa Việt Nam, còn cần sự chung tay, ủng hộ quyết liệt từ chính khán giả trong nước. Điều này, những năm gần đây đang có chuyển biến tích cực. Khán giả Việt Nam chắc chắn về mọi mặt chẳng thua kém gì khán giả Hàn Quốc. Bằng chứng là, ngành công nghiệp văn hóa - giải trí của Hàn Quốc đã đánh giá fan Việt là một trong những cộng đồng - thị trường tiềm năng, để dẫn đến sự kiện lần này, BLACKPINK tới Hà Nội”.

Không phải tự nhiên mà có

Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho con người, không có chuyện cứ đầu tư cho văn hóa là chỉ “tiêu tiền”. Tại các nước phát triển, thường có một nền công nghiệp văn hóa, giải trí phát triển cao, với doanh thu rất lớn, đóng góp của văn hóa cho nền kinh tế không hề nhỏ.

Lấy ví dụ về thị trường ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo. Theo báo cáo của UNESCO, trước đại dịch COVID-19, các ngành công nghiệp này là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, được dự báo có đóng góp đáng kể cho GDP toàn cầu lên tới 10% vào năm 2030. Ngoài ra, ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo giải quyết rất nhiều lao động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, sự gắn kết của các cộng đồng trong xã hội.

thuc day su phat trien cong nghiep van hoa o viet nam bao gio tiem nang thanh hien thuc hinh 3

Tại Anh, ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo đóng góp hơn 115 tỷ bảng Anh, chiếm 5,9% giá trị nền kinh tế Anh - nhiều hơn tổng giá trị ngành công nghiệp vũ trụ, tự động hóa, khoa học cuộc sống, dầu mỏ và khí đốt cộng lại. Tại Mỹ, theo thống kê của Cơ quan Phân tích Kinh tế Mỹ năm 2020, hoạt động kinh tế văn hóa và nghệ thuật chiếm tỷ trọng 4,2% tổng sản phẩm GDP của nước này, tương đương 876,7 tỷ USD, tạo ra 4,5 triệu việc làm. Tại Hàn Quốc, năm 2022 có thể xem là một năm đại thành công của ngành công nghiệp K-Pop, đặc biệt là với sự bùng nổ của các nhóm nhạc nữ. Chỉ tính riêng các công ty SM Entertainment, YG Entertainment, JYP Entertainment, Hybe, (thường được gọi là “Big 4” trong ngành giải trí Hàn Quốc) đã chiếm hơn 60% thị phần đĩa nhạc vào năm 2021. Năm 2020, tổng doanh thu của “Big 4” đạt 2.507 tỷ USD với lợi nhuận ròng gần 344,5 tỷ USD. Nhờ công nghiệp giải trí, văn hóa Hàn Quốc đã lan tỏa trên toàn cầu.

Trong khi đó, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp doanh thu tương đương với 3,61% với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Đó chỉ mới là mức phấn đấu.

Việt Nam cũng đang tìm đường đưa văn hóa Việt tiếp cận thế giới khi V-Pop đang khởi đầu khiêm tốn, bắt đầu vươn ra thị trường Đông Nam Á, châu Á, đặc biệt sau thành công của Sơn Tùng hay Erik, Min, gần đây là Hoàng Thùy Linh với “See tình”...

Xã hội hóa đầu tư ngành công nghiệp giải trí cũng là vấn đề cần quan tâm để không chỉ có doanh thu lớn mà còn góp phần lan tỏa văn hóa Việt, nghệ thuật Việt. Bộ phim “Nhà bà Nữ” của Trấn Thành là một ví dụ cụ thể về hiệu quả của công tác xã hội hóa trên lĩnh vực điện ảnh. Với doanh thu hơn 500 tỷ đồng (chưa tính chiếu ở nhiều nước khác), phim cho thấy sức mạnh của công tác xã hội hóa ngành giải trí ở nước ta có tiềm năng lớn, đang cần những đòn bẩy về nguồn vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, để phát triển.

Đó là chỉ lấy ví dụ về một mảng của ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo. Còn nhiều lĩnh vực khác như bảo tàng, di sản văn hóa..., tất cả đều có thể làm ra tiền. Có thể nói, đầu tư cho văn hóa cũng là bắt “con gà đẻ trứng vàng”. Làm ra tiền của ngành công nghiệp văn hóa không chỉ là đóng góp cho ngân sách mà quan trọng nhất là lan tỏa văn hóa Việt, giá trị Việt ra toàn cầu, có thêm nguồn lực để đầu tư cho ngành văn hóa giải trí.

Với hàng nghìn năm hình thành và phát triển, Việt Nam là một trong những quốc gia văn hiến, có truyền thống văn hóa lâu đời. Chính văn hóa đã góp phần làm nên sức mạnh, làm cho tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Vì vậy, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, thành động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Do vậy, đầu tư cho văn hóa cần những thể chế, chính sách mới mẻ, định hướng thực tế, để kiến tạo cho mục tiêu chấn hưng và phát triển văn hóa, phát huy, khai thác các nguồn lực. Từ đó góp phần phát triển con người Việt Nam toàn diện (nhất là thế hệ trẻ); chính sách xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng đời sống văn hóa của người dân ngày càng được nâng cao.

Khánh An

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: