Bất bình đẳng giới, chị em mình có lỗi hay không?

1.Nói rộng hơn, xã hội còn nặng lối tư duy và đối xử bất bình đẳng giới, theo phía gây nhiều thiệt thòi cho người phụ nữ.

Người ta quen với việc một người đàn ông hết giờ đi làm về, cùng bạn bè la cà trong quán bia đến tối mịt mới về. Trong những quán bia như thế, có rất ít phụ nữ. Trong gia đình, người ta cũng thường dạy con trai thì phải mạnh mẽ; con gái thì phải biết nấu ăn, biết giặt giũ, biết dọn dẹp nhà cửa v.v…

Có thể kể ra vô vàn những ứng xử bất bình đẳng giới trong xã hội. Hãy xem một quảng cáo một loại gia vị: Người vợ nhờ có gia vị mà nấu được món ăn ngon, người chồng đi làm về, com-lê, cà vạt, nếm món ăn rồi khen vợ đảm, gia đình thật ấm cúng. Hay xem quảng cáo một loại bột giặt: Cũng lại người vợ, nhờ có bột giặt tốt mà nhàn hơn trong công việc giặt giũ, giúp cho quần áo của cả nhà sạch sẽ thơm tho…

Lại có dòng quảng bá bao cao su "Chủ động tránh thai, tròn vai thiên chức", cũng khiến ta phải suy nghĩ, bởi tránh thai đâu chỉ là nhiệm vụ của một giới.

Đến ngay như việc cử cán bộ đi họp các cuộc họp về bình đẳng giới hay lồng ghép giới, các cơ quan, đơn vị cũng thường cử một chị nào đó đi, khiến cho các cuộc họp này không còn là cuộc họp về giới (vốn là của cả hai giới nữa) mà đã thành cuộc họp của chị em phụ nữ (Tôi đã từng dự một số cuộc họp như thế, thấy mười chị thì may có một anh dự họp).

Rõ ràng những ứng xử bất bình đẳng kiểu này hoàn toàn không phải do thiên chức hay sinh lý của người phụ nữ khác với nam giới, mà hoàn toàn là do định kiến của xã hội gây ra. Những định kiến này cần phải được xóa bỏ để xã hội ta có thể thực sự trở thành xã hội công bằng, văn minh; mọi người đều được phát huy, phát triển năng lực của mình để có cuộc sống hạnh phúc và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

Có rất nhiều người đàn ông do năng khiếu thiên bẩm rất phù hợp làm các công việc nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, may mặc, nội trợ… và có rất nhiều người phụ nữ rất phù hợp và họ cũng thích làm các việc như lái xe, sửa chữa điện máy v.v…

Chẳng có lý do gì để nói rằng thiên phú giới tính của họ là để làm việc gì trong những trường hợp này cả, nhưng người ta vẫn quen cho là việc này là để dành cho giới này và việc kia để dành cho giới kia. Thói quen đó là một định kiến sai lầm.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

2.Phải khẳng định rằng, từ khi có chế độ mới đến nay, sự nghiệp bình đẳng giới ở nước ta đã tiến được những bước dài gấp vạn lần so với suốt cả ngàn năm trước đó dưới chế độ phong kiến. Ngày xưa, phụ nữ còn không được đi học. Ngày nay nước ta có nhiều phụ nữ làm thầy, là giáo sư, dạy cho cả nam giới. Tuy vậy, so với các nước phát triển, sự bình đẳng giới ở ta còn kém họ nhiều.

Vì vậy, nhiều tiềm năng sáng tạo của phụ nữ Việt Nam không được phát huy, làm chậm quá trình phát triển của đất nước. Nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới, tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ trong rất nhiều công việc và hoàn cảnh khác nhau đã được rất nhiều các nhà khoa học và quản lý đề cập; các văn bản tổng kết, đánh giá của các cơ quan, đoàn thể… cũng mổ xẻ rất nhiều, nhằm đưa ra các giải pháp để khắc phục tốt nhất, thúc đẩy sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thúc đẩy sự phát triển của cả kinh tế và văn hóa của từng gia đình và của cả đất nước.

Trong các nguyên nhân ấy, người ta dễ dàng nhất trí với nhau về những nguyên nhân gắn với tàn dư của xã hội phong kiến hàng ngàn năm còn sót lại ở nước ta. Có nguyên nhân từ phía nam giới muốn duy trì sự bất bình đẳng trong nhiều công việc và hoàn cảnh, vì sự bất bình đẳng này đem lại cho họ những “đặc ân”, lợi thế trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Có những nguyên nhân từ hệ thống luật pháp còn cần được hoàn thiện hơn nữa,v.v… Người ta cũng dễ dàng nhất trí với nhau rằng, hơn ai hết, phụ nữ Việt Nam chính là những người mong muốn sự bất bình đẳng này phải sớm được xóa bỏ.

3. Vậy có hay không, nguyên nhân xuất phát từ chính các chị em phụ nữ, vốn rất hay lên án (vì bị chịu thiệt do) sự bất bình đẳng, lại đang vô tình hay cố ý làm cho sự bất bình đẳng ngày càng khó mà xóa bỏ đi được?

Xin thưa là có. Thậm chí, khó khăn bậc nhất để xóa bỏ bất bình đẳng giới và sự phân biệt đối xử với phụ nữ hiện nay và thời gian tới ở nước ta, thật trớ trêu, lại chính là ở phía chị em phụ nữ. Nguyên nhân này thì người ta chưa nói đến nhiều. Người viết thì còn cho là chị em phụ nữ chúng ta, nhiều người thực ra chưa chắc đã mong muốn sự bình đẳng giới thực sự.

Nói vậy thì chắc chị em sẽ phản đối. Nhưng có một thực tế là, khi hỏi hầu hết mọi chị em về tiêu chuẩn của người mà mình sẽ yêu và sẽ lấy làm chồng thì đều có một điểm chung trong câu trả lời là: Người đó nói chung phải hơn mình về trí tuệ, khả năng kiếm tiền hay một số tố chất khác.

Đa số đàn ông không buồn rầu vì vợ mình không thông minh, giỏi giang bằng mình, nhưng đa số phụ nữ lại buồn rầu vì chồng mình không giỏi giang thành đạt (về xã hội) bằng mình. Thế nên, có những người sợ cho con gái học cao; vì họ cho rằng, phụ nữ càng học cao càng khó lấy chồng.

Vì sao người đàn ông học cao thì lại yêu được người phụ nữ bình thường, thậm chí học vấn thấp mà người phụ nữ học cao lại khó yêu được một người đàn ông bình thường? Điều này là tại xã hội, tại đàn ông, hay tại phụ nữ? Rõ ràng là tại phụ nữ. Câu nói phổ biến của nhiều chị em là: Tôi muốn chồng tôi phải là người hơn tôi một (hay nửa) cái đầu. Điều này dẫn đến quan niệm phổ biến trong xã hội là chồng thì phải giỏi giang hơn vợ. Tư tưởng này ở cả đàn ông và phụ nữ thì đều có, nhưng tác động của nó tới sự bất bình đẳng giới thì không như nhau.

Việc người đàn ông có thể dễ dàng yêu người phụ nữ kém tài hơn mình nhiều không gây ra sự bất bình đẳng giới, nhưng việc người phụ nữ rất khó khăn trong việc yêu và kết hôn với một người đàn ông kém cỏi hơn mình thì thực sự là một nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng giới, vì nó tạo ra một tâm lý xấu phổ biến cho xã hội.

Người ta cho rằng, đã là vợ thì phải nghe theo chồng (vì chồng thường giỏi giang hơn). Điều này dẫn đến thói quen là cả những ông chồng chẳng giỏi giang gì hơn vợ cũng nghiễm nhiên có quyền bắt vợ phải nghe theo mình (như các ông chồng khác) một cách rất bất công.

Tôi thấy khá nhiều cô gái đã khá lớn tuổi, nhưng vẫn mải mê kén chọn, bỏ qua nhiều người có tình cảm chân thành với mình chỉ vì người đó không có trí tuệ hay tài năng hơn mình. Chúng ta không lạ gì các ví dụ về chuyện mọi người thường nói về một cô gái nào đó: Cô ấy xinh đẹp, giỏi giang, ngoan ngoãn thế mà sao chừng ấy tuổi vẫn chưa có ai yêu được thế nhỉ.

Kết cục đáng buồn là rồi đến lúc cô ấy cũng lấy chồng (trừ những người không muốn lấy chồng thì không nói), mà người chồng này thì còn kém hơn nhiều những người mà cô ấy đã bỏ qua. Thật tiếc, chính do định kiến và bảo thủ, cô ấy đã không thể yêu được những người dù rất tốt và đáng yêu, tuy một tài năng nào đó có thể không bằng mình, nhưng lại có biết bao phẩm chất và điều kiện để có thể đảm bảo hạnh phúc cho cuộc sống.

Đã đến lúc cả xã hội, nhưng trước hết chị em phải tự giải phóng mình khỏi quan niệm này. Tình yêu và hôn nhân phải lấy sự hòa hợp tâm hồn, tình cảm, quan niệm sống làm yếu tố cơ sở quan trọng bậc nhất.Trí tuệ, tài năng tất nhiên không nên quá chênh lệc, song không nên đặt vấn đề ai phải hơn ai. Đã yêu thương nhau mà kết hôn, thì tài năng của ai cũng phải là để xây dựng hạnh phúc chung cho gia đình mà thôi. Tất nhiên ai có được người chồng (hay vợ) có tài trí hơn mình thì cũng là người may mắn cả; chồng hay vợ có “cái đầu” hơn cũng là quý cho gia đình mình cả, rất không nên phân biệt.

Là đàn ông, anh em khó mà chinh phục nổi người phụ nữ thông minh, tài giỏi hơn mình. Nhưng chị em hãy nhớ rằng người đem lại hạnh phúc hơn cho ta không phải luôn luôn là người thông minh, giỏi giang hơn về một mặt nào đó. Hạnh phúc có được là nhờ tổng thể các điều kiện chứ không dựa vào một vài yếu tố nào.

Là phụ nữ, hãy biết lựa chọn người có thể cùng với mình xây dựng cuộc đời hạnh phúc; và hãy biết yêu thương, hài lòng về người chồng đang hết lòng cùng mình xây dựng cuộc đời chung hạnh phúc, dù cho anh ta có thông minh tài giỏi bằng mình hay không cũng không phải là vấn đề. Đừng để định kiến sai lầm làm mất đi cơ hội có được hạnh phúc đích thực.

Làm sao có bình đẳng giới khi chính phụ nữ (vốn đang chịu thiệt do bất bình đẳng giới) không muốn từ bỏ đi quan niệm sống bất bình đẳng của chính mình? Cuộc chiến chống bất bình đẳng giới (mà sự bất bình đẳng ấy đang gây thiệt thòi quá lớn cho phụ nữ) cần sự vào cuộc của toàn xã hội và để có bình đẳng giới thật sự thì cần rất nhiều thời gian và điều kiện, trong đó có điều kiện rất quan trọng là chị em phụ nữ phải tự vượt qua định kiến của chính bản thân mình.

Trần Văn Sỹ

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: