Công nghiệp điện tử Việt Nam: Khi niềm tin ký thác sai nơi, nhầm chỗ

(NB&CL)Hàng chục năm qua, Chính phủ đã xác định công nghiệp điện tử là ngành công nghiệp trọng yếu và dành nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng hiệu quả đem lại rất nhỏ bé. Tới nay, những lùm xùm trong ngành công nghiệp điện tử thời gian qua liệu có phải đã cho thấy chúng ta đã ký thác niềm tin sai nơi nhầm chỗ?

1. Asanzo từng được ví von là “hiện tượng” của nền công nghiệp điện tử Việt Nam, cho tới khi Báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài nêu việc doanh nghiệp này sử dụng linh kiện Trung Quốc, xé nhãn “Made in China” và dán nhãn “Xuất xứ Việt Nam” lên sản phẩm.

Thêm nữa, không chỉ nhập hàng nguyên chiếc khai báo linh kiện, Asanzo còn gỡ tem “Made in China” rồi dán đè tem “Xuất xứ Việt Nam” lên sản phẩm, với một quy trình rất bất ngờ.

Giữa “khủng hoảng”, lãnh đạo Asanzo đã gặp gỡ báo chí để làm rõ các thông tin nêu trên.

Chủ tịch Asanzo Phạm Văn Tam cho rằng, đối với sản phẩm tivi, Asanzo nhập 70% linh kiện Trung Quốc, 30% còn lại Asanzo tự làm như: thiết kế bảng mạch, hiệu chỉnh phần mềm Android TV, bộ nguồn phù hợp với điện 220V, remote... Ngoài ra, Asanzo còn có đóng góp vỏ nhựa, dây nguồn, thùng xốp, bao bì giấy, nhân công,... vào “tỉ lệ nội địa”.

Vậy là, chỉ với “tỉ lệ nội địa” như vậy, hàng điện tử gia dụng của Asanzo đã được chứng nhận là “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, khiến bao người cười ra nước mắt.

Thật may, Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao đã lập tức tước chứng nhận trên, đã thông tin rằng:  hành vi nhập hàng Trung Quốc ghi xuất xứ Việt Nam gây tổn thương nghiêm trọng đến niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam vào hàng Việt,…

Công nhân lắp ráp điện thoại tại nhà máy Samsung Thái Nguyên - Ảnh. SGGP

Công nhân lắp ráp điện thoại tại nhà máy Samsung Thái Nguyên - Ảnh. SGGP

2. Không phải tới khi Asanzo bị “lộ”, ta mới biết sự tồn tại của những sản phẩm điện tử “vỏ Việt ruột Tàu”.

Quay lại lịch sử, từ những năm 1990, dưới “tán cây bảo hộ”, ngành điện tử Việt Nam có những bước tiến lớn, với tốc độ tăng trưởng 20% - 30%/năm, xuất khẩu sang 35 nước,… và được tung hô là phát triển vượt bậc. Rồi sang những năm 2000, hàng loạt “tên tuổi” như Viettronic Tân Bình (VTB), Điện tử Biên Hòa (Belco), Điện tử Hà Nội (Hanel) đã phải dạt về các vùng xa xôi ở Bình Định, Quảng Ngãi, Nghệ An, An Giang, Lai Châu, Điện Biên, để bán hàng.

Ông Dương Minh - Giám đốc Công ty CP Điện tử Thủ Đức khi ấy đã thẳng thắn: “Tôi cho rằng ngành điện tử Việt Nam hiện nay là... con số không. Thực tế, các nhà lắp ráp trong nước hiện sản xuất theo quy trình: Nhập linh kiện từ Trung Quốc rồi lắp ráp, dán mác vào là xong”.

Sau sự thất bại của tivi, máy lạnh, máy giặt hay loa “made in Vietnam”, Nhà nước ta lại tiếp tục hỗ trợ phát triển công nghiệp máy tính.

Theo đó, từ Quyết định số 223/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng về việc cho phép các dự án sử dụng ngân sách Nhà nước mua máy tính lắp ráp trong nước, không phân biệt thương hiệu trong hay ngoài nước, đã lập tức có hơn 1,2 triệu máy tính được tiêu thụ, trong đó 70% máy tính lắp ráp trong nước. Khi ấy, nhiều người tin rằng “ngành công nghiệp” máy tính Việt Nam sẽ có “cú hích” để phát triển.

Những chiếc máy tính thương hiệu Việt như Robo, FPT Elead, CMS, SingPC, Nova, Trần Anh, Khai Trí, Bách Khoa Computer,… ra đời từ cuối những năm 1990 trở về sau, ít nhiều cũng bán được hàng, dù không thể so sánh với những thương hiệu máy tính toàn cầu.

Nhưng khi “mổ bụng” những chiếc máy tính thương hiệu Việt này, thì thấy những chi tiết quan trọng đều của nước ngoài, như vi xử lý của Intel, Ram (Kingston), ổ cứng (Kingston), màn hình (thường là Samsung), ổ cứng (Hitachi...), bộ nguồn (CoolerMaster, AcBel) … đều là sản phẩm ngoại nhập. Thậm chí, bộ nguồn là hàng “no name”, công suất “ảo”.

Sau máy tính để bàn, các doanh nghiệp Việt có bước vào sản xuất laptop, nhưng laptop thương hiệu Việt chẳng qua vẫn là “mác Việt”, là hàng ngoại “đội lốt”.

Học sinh một trường THCS tại huyện Thạch Thất, Hà Nội nhận máy tính do Hanel trao tặng năm 2010.

Học sinh một trường THCS tại huyện Thạch Thất, Hà Nội nhận máy tính do Hanel trao tặng năm 2010.

3. Hơn 20 năm đã qua, dù doanh nghiệp điện tử Việt Nam hầu hết chết lâm sàng, thì chúng ta vẫn là quốc gia xuất khẩu điện tử lớn thứ 12 thế giới.

Thành quả đó là nhờ chính sách khuyến khích đầu tư FDI, biến Việt Nam dần trở thành công xưởng của thế giới. Hiện lĩnh vực điện tử thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI với các tên tuổi lớn như Samsung, Foxconn, LG, Panasonic, Intel,… Lúc này, công nghiệp điện tử Việt Nam chỉ “có tiếng mà không có miếng”, bởi phần lớn giá trị xuất khẩu đều nằm trong tay khu vực FDI (95%), tỷ lệ cung ứng linh kiện từ doanh nghiệp nội địa rất thấp.

Nguyên nhân của tình trạng trên cũng đã được chỉ ra tại nhiều diễn đàn công nghệ, rằng chính bởi sự vắng bóng của hoạt động R&D, đã khiến doanh nghiệp Việt không thể sở hữu nhiều công nghệ lõi, khó cạnh tranh để lớn mạnh thông qua chuyển đổi và hạ giá thành sản phẩm. “Muốn xây dựng ngành điện tử đích thực, đòi hỏi có sự táo bạo, nguồn đầu tư vật chất lớn của doanh nghiệp. Đặc biệt, cần vận động doanh nghiệp nước ngoài chủ động chuyển giao công nghệ hiện đại cho đối tác Việt Nam, kể cả kinh nghiệm, cách làm…”, TS. Nguyễn Thị Kiều - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nêu đề xuất.

Ngoài ra, các chuyên gia cũng nói tới “nút thắt” về thể chế. Rằng trong khi tại các nước có nền kỹ nghệ điện tử phát triển, hầu hết thương hiệu lớn thuộc tư nhân, thì khu vực này ở Việt Nam chưa thể lớn, một phần cũng bởi sự độc quyền của khối quốc doanh và chính sách phân biệt đối xử hãy còn tồn tại nhiều bất cập, khiến rào cản gia nhập những lĩnh vực như viễn thông, internet là quá lớn.

Và để tìm ra hướng đi cho ngành công nghiệp điện tử Việt vốn đã tụt lại quá xa, thậm chí bị gạt ra ngoài rìa, nhiều chuyên gia cho rằng bên cạnh việc kêu gọi đầu tư FDI, phát triển công nghiệp phụ trợ, Việt Nam nên hướng tới những lĩnh vực có ưu thế như nông nghiệp, tích hợp tri thức vi điện tử vào hoạt động sản xuất linh kiện, giải pháp giúp cải thiện năng suất và chất lượng nông nghiệp, giám sát môi trường, năng lượng xanh, hay thúc đẩy khởi nghiệp từ môi trường đại học?!

Có thế, những quy trình sản xuất “kỳ lạ”, những sản phẩm “vỏ Việt ruột Tàu” trong ngành công nghiệp điện tử Việt mới hết cơ hội gây tổn thương cho cả Nhà nước và người tiêu dùng.

Hàng chục năm qua, Chính phủ đã xác định công nghiệp điện tử là ngành công nghiệp trọng yếu và dành nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng hiệu quả đem lại rất nhỏ bé. Từ những lùm xùm đã qua, có phải đã cho thấy chúng ta đã ký thác niềm tin sai nơi, nhầm chỗ?

Kiên Giang

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: