Để nhìn nhận rõ hơn các động lực tăng trưởng hiện hữu và định hướng các giải pháp điều hành nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính.
+ Thưa bà, bà có đánh giá như thế nào về những động lực chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2025?
- Tôi cho rằng, để nhận định đâu là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam, cần phải xét các góc độ từ cả cung và cầu.
Thứ nhất, động lực từ phía cung, một số ngành sản xuất hàng hóa có động lực tăng trưởng lớn từ cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ví dụ, ngành công nghiệp chế biến chế tạo có đóng góp cao nhất vào tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt tăng trưởng, dù phải đối mặt với áp lực chi phí đầu vào và thuế quan quốc tế tăng.
Với dự báo thương mại toàn cầu cải thiện hơn so với nhận định trước đây, nhu cầu tiêu dùng các nước tăng vào dịp Noel và cuối năm, do đó tôi kỳ vọng ngành chế biến, chế tạo sẽ tăng tốc sản xuất đáp ứng cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đặc biệt ở các nhóm hàng có giá trị lớn như điện tử, ô tô, xe có động cơ, trang phục, dệt may, da giày, đồ gỗ.
Hay như ngành khai khoáng có giai đoạn suy giảm kể từ quý III/2024, tới quý III/2025 đã có nhịp tăng trưởng trở lại, với mức tăng 7,78%, đóng góp 2% vào tăng trưởng chung nhờ mở rộng khai thác than và dầu khí, đặc biệt là hai mỏ dầu Kình Ngư Trắng và Kình Ngư Trắng Nam chính thức được khai thác dòng dầu đầu tiên từ tháng 7/2025.
Đây là yếu tố hỗ trợ quan trọng để đảm bảo nguồn cung năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, hạn chế nhập khẩu, làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thứ hai, động lực tăng trưởng từ phía cầu. Chúng ta có thể thấy, trong năm 2025, giải ngân vốn đầu tư công, được xem là yếu tố hàng đầu để tăng tổng cầu để tạo hiệu ứng lan tỏa trong toàn nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ cho cả phía cung và phía cầu những tháng cuối năm.
Tính đến hết tháng 9/2025, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 550,1 nghìn tỷ đồng, bằng 55,7% kế hoạch năm và tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 2,5% của cùng kỳ năm 2024. Chính phủ đặt mục tiêu giải ngân đầu tư công đạt trên 95% nên dự kiến quý IV sẽ là điểm rơi chủ đạo của đầu tư công.
Bên cạnh đó, FDI tiếp tục đóng vai trò là động lực cầu quan trọng, vừa thúc đẩy đầu tư, vừa tạo năng lực cung cho nền kinh tế. Năm 2025, Việt Nam duy trì sức hút đối với nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng sạch, công nghiệp trung hòa carbon, điện tử và thiết bị thông minh.
Đầu tư tư nhân và dân cư chiếm trên 53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng của năm 2025, cho thấy đây vẫn là nguồn lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vai trò của khu vực tư nhân không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn ở tính linh hoạt, tốc độ triển khai nhanh và hiệu quả cao, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, thương mại, logistics, bất động sản công nghiệp và hạ tầng xã hội.
Ngoài các động lực tăng trưởng truyền thống, trong năm vừa qua còn có một số động lực mới như: Ứng dụng số hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tiến trình hội nhập sâu rộng.
Tôi cho rằng, năm 2025 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế dựa trên các mô hình tăng trưởng mới là kinh tế số và đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, năng lượng tái tạo và cải cách thể chế.
+ Kết quả tăng trưởng năm 2025 nói riêng và giai đoạn 2021-2025 nói chung có ý nghĩa thế nào trong việc tạo nền tảng cho đà tăng trưởng 2 con số từ năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, thưa bà?
- Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt khoảng 8% mà Chính phủ đặt ra ngay đầu năm có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định quyết tâm phục hồi và bứt phá mạnh mẽ của nền kinh tế.
Đồng thời, mục tiêu này đóng vai trò là bước đệm quan trọng cho giai đoạn 2026 - 2030, góp phần củng cố nền tảng vĩ mô, tạo quán tính tăng trưởng và nâng cao vị thế, sức hấp dẫn của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh và dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.
Kết quả tăng trưởng năm 2025 và giai đoạn 2021 - 2025 chính là nền tảng để Việt Nam bước sang chu kỳ tăng trưởng cao 2026 - 2030.
Kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường đầu tư ngày càng thuận lợi và niềm tin thị trường được củng cố trong giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo nền tảng then chốt để nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm mở rộng hoạt động, đặc biệt là thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao trong bối cảnh dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Những yếu tố này đóng vai trò như điều kiện cần để hình thành các động lực tăng trưởng đột phá từ năm 2026, qua đó giúp Việt Nam có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số một cách ổn định và bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, nhất là các dự án hạ tầng trọng điểm, cũng như cải cách thể chế và tinh gọn bộ máy trong giai đoạn 2021 - 2025 đã góp phần khơi thông nguồn lực, giải phóng năng lực sản xuất, không gian phát triển và tạo nền tảng cũng như kỳ vọng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
+ Theo bà, cần có thêm các giải pháp điều hành nào để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026?
- Dựa trên những kết quả tích cực đạt được trong năm 2025, cùng với việc phân tích đầy đủ các thuận lợi và khó khăn của bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị về giải pháp điều hành nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026.
Thứ nhất, ưu tiên phát triển thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát nợ công, bội chi ngân sách Nhà nước trong giới hạn quy định.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao chuỗi giá trị thông qua gói hỗ trợ tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, hoặc hỗ trợ kỹ thuật cho SMEs tham gia chuỗi cung ứng FDI và xuất khẩu.
Thứ ba, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ động lực tăng trưởng mới, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Mở rộng ưu đãi thuế R&D, lập quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ nội địa.
Thứ tư, đẩy mạnh thu hút FDI theo “chất lượng” gắn với chuỗi giá trị cao chuyển mục tiêu từ “số lượng vốn” sang “hàm lượng công nghệ, tỷ lệ nội địa hoá, giá trị gia tăng” ưu đãi có điều kiện về thuế, đất cho doanh nghiệp cam kết R&D, sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng nội địa hoá cao.
Thứ năm, Việt Nam cần kích cầu có trọng tâm tăng tiêu dùng bền vững. Khuyến khích tiêu dùng hướng vào hàng hoá sản xuất trong nước giá trị gia tăng cao và hỗ trợ tiêu dùng dịch vụ (du lịch nội địa, dịch vụ giải trí) bằng chương trình an toàn du lịch, khuyến mãi có điều kiện.
Thứ sáu, chúng ta cần chuyển đổi năng lượng và kinh tế xanh tận dụng đầu tư xanh và thị trường carbon. Thúc đẩy dự án năng lượng tái tạo, điện khí kết hợp cơ chế đấu thầu minh bạch; xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon để thu hút đầu tư xanh. Ưu tiên các khu công nghiệp sinh thái, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch bằng hỗ trợ tài chính và chính sách thuế.
Thứ bảy, Việt Nam cũng cần cải cách thể chế, cắt giảm chi phí. Tiếp tục rà soát bãi bỏ điều kiện kinh doanh không cần thiết, giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư và thành lập doanh nghiệp; hoàn thiện phân cấp phân quyền, tăng trách nhiệm chính quyền địa phương trong thu hút đầu tư và giải ngân.
+ Xin cảm ơn bà!