Dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi): Hướng tới một ngành đường sắt phát triển bền vững và hội nhập mạnh mẽ

Lạc hậu, bất cập sau hơn 7 năm thực thi

Từng là trụ cột vận tải của quốc gia, đến nay, ngành đường sắt dần bị lãng quên và tụt lại phía sau so với các phương thức vận tải khác. Từ ở vị thế là một trong những ngành vận tải mũi nhọn của cả nước, chiếm đến 30% thị phần giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh cho đất nước; giờ đây, thị phần ngành đường sắt chiếm tỷ lệ chưa đến 1% của toàn ngành giao thông.

Theo số liệu thống kê từ Bộ Giao thông Vận tải, trong năm 2019, ngành đường sắt vận chuyển 8,04 triệu lượt khách, chiếm 0,17% thị phần vận tải so với toàn ngành; vận chuyển 5,2 triệu tấn hàng hóa, chiếm 0,31%. Đến năm 2023, vận tải hành khách giảm sút khi chỉ đạt 6,11 triệu lượt, chiếm 0,13%; vận tải hàng hóa là 4,64 triệu tấn, chiếm 0,2%. Trong 9 tháng đầu năm 2024, sản lượng vận tải hàng hóa của ngành đường sắt hiện chỉ đạt 3,657 triệu tấn và vận chuyển hàng khách đạt 5,762 triệu lượt.

du thao luat duong sat sua doi huong toi mot nganh duong sat phat trien ben vung va hoi nhap manh me hinh 1

Sửa đổi Luật Đường sắt là một bước đi chiến lược của Chính phủ, thể hiện sự quyết tâm cải tổ và phát triển ngành đường sắt Việt Nam theo hướng hiện đại và hiệu quả.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, sự sa sút của ngành đường sắt xuất phát từ hệ thống hạ tầng và công nghệ đã quá lỗi thời, không theo kịp nhu cầu vận tải ngày một tăng của người dân. Hiện, những đoàn tàu của Việt Nam vẫn đang dựa trên công nghệ diesel với tốc độ khai thác tối đa là 100 km/giờ. Trong khi đó, tại các quốc gia khác lại đang sử dụng công nghệ điện khí hóa và công nghệ điện từ cho tốc độ khai thác dao động từ 150-200km/giờ. Thậm chí, nhiều quốc gia ngay trong khu vực ASEAN đã triển khai đường sắt tốc độ cao với tốc độ đạt từ 250 - 300 km/giờ. Bên cạnh đó, chi phí vận hành và bảo trì hệ thống đường sắt lớn trong khi năng lực không thể tăng, hiệu quả thấp.

Mặc dù đã có những bước chuyển mình tích cực sau hơn 5 năm tái cơ cấu, ngành đường sắt vẫn chưa đủ sức bứt phá khỏi quỹ đạo cũ. Vốn được đầu tư nhỏ giọt, chủ yếu dành cho các công tác duy tu, sửa chữa bề mặt, không đủ sức thâm nhập vào những cải cách sâu rộng và chiến lược. Trong khi giao thông đường bộ, hàng không, đường thủy nhận được sự đầu tư mạnh mẽ từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA và các nguồn lực xã hội hóa, thì đường sắt lại lặng lẽ chìm vào vùng tối của sự lãng quên. Đây là một sự lãng phí đáng tiếc, khi mỗi km đường ray lẽ ra có thể mang lại giá trị lớn cho nền kinh tế, lại đang đối mặt với nguy cơ trở thành dấu tích của quá khứ, một thời đã xa.

Để đưa ngành đường sắt trở lại đường ray phát triển, Chính phủ đã ký Quyết định 82/QĐ-TTg, phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cùng với đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 49-KL/TW, tái khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của đường sắt trong bức tranh tổng thể của chiến lược phát triển đất nước, với tầm nhìn đến năm 2045. Đặc biệt, để hiện thực hóa các quan điểm và đường lối chiến lược, với một ngành đặc thù như đường sắt, cần có sự hỗ trợ từ thể chế pháp luật, cụ thể ở đây chính là việc bổ sung, sửa đổi Luật Đường sắt 2017.

Luật Đường sắt được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 3 ngày 16/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 và được sửa đổi, bổ sung năm 2019, đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành đường sắt. Tuy nhiên, sau hơn 7 năm thực hiện, Luật Đường sắt đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập, đòi hỏi phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới.

Sửa luật, lấy lại đà tăng trưởng

Dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi) đang được Bộ Giao thông Vận tải lấy ý kiến rộng rãi. Đây được coi là bước đột phá về thể chế, tạo ra nền móng pháp lý vững chắc cho sự cải tổ toàn diện, kỳ vọng sẽ khơi thông hành lang pháp lý, khuyến khích đầu tư và đưa ngành đường sắt tiến nhanh, mạnh và bền vững trong thời gian tới.

Theo Cục Đường sắt Việt Nam, Dự thảo Luật Đường sắt mới (sửa đổi) có 8 chương và 79 điều. Một trong những điểm nổi bật của Dự thảo là cho phép khai thác quỹ đất xung quanh các ga đường sắt, nhằm tạo ra nguồn lực tài chính hỗ trợ phát triển hạ tầng. Theo đó, các khu vực đất quanh ga có thể được sử dụng để xây dựng các tổ hợp thương mại, dịch vụ, văn phòng, góp phần tăng nguồn thu cho ngành, đồng thời phát triển hạ tầng đồng bộ, tạo không gian đô thị văn minh, hiện đại. Quy định mới này mang lại nhiều kỳ vọng về việc cải thiện hạ tầng ga tàu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ tại các nhà ga.

Dự thảo cũng tạo điều kiện để thu hút các nguồn vốn xã hội hóa, đặc biệt là từ khu vực tư nhân và chính quyền địa phương. Các địa phương có quyền chủ động trong việc đầu tư, quản lý và khai thác các tuyến đường sắt phục vụ nhu cầu kinh tế - xã hội của từng vùng, mở ra một hướng đi mới để phát triển hệ thống đường sắt vùng.

du thao luat duong sat sua doi huong toi mot nganh duong sat phat trien ben vung va hoi nhap manh me hinh 2

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, sự sa sút của ngành đường sắt xuất phát từ hệ thống hạ tầng và công nghệ đã quá lỗi thời, không theo kịp nhu cầu vận tải ngày một tăng của người dân.

Riêng đối với các dự án đặc biệt như đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao, Dự thảo cho phép áp dụng thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) thay cho thiết kế cơ sở để rút ngắn thời gian triển khai dự án, nâng cao hiệu quả và minh bạch trong quá trình thực hiện.

Một điểm quan trọng khác trong Dự thảo là sự tập trung vào phát triển công nghiệp đường sắt nội địa. Theo đó, Dự thảo đặt ra các cơ chế ưu đãi và khuyến khích đầu tư vào sản xuất các sản phẩm đặc thù như đầu máy toa xe, hệ thống tín hiệu thông tin và vật liệu đặc chủng (ray, ghi). Đây là những sản phẩm công nghệ cao, nếu có thể sản xuất ngay trong nước sẽ giúp giảm thiểu chi phí, nâng cao tính tự chủ và phát triển bền vững cho ngành. Chính phủ cũng đưa ra các chính sách hỗ trợ, đặt hàng cho các doanh nghiệp sản xuất vật tư, thiết bị đường sắt, với hy vọng xây dựng một ngành công nghiệp đường sắt Việt Nam tự chủ và vững mạnh.

Ngoài ra, Dự thảo cũng đặc biệt chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và đào tạo chuyên gia, kỹ sư chất lượng cao trong lĩnh vực đường sắt. Các chuyên gia trong lĩnh vực đường sắt sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển công nghệ mới, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của ngành. Điều này không chỉ nâng cao năng lực công nghệ cho ngành đường sắt mà còn tạo ra cơ hội việc làm hấp dẫn, thu hút giới trẻ vào một ngành vốn đã từng là biểu tượng của sự phát triển và hiện đại.

Dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ là cú hích mạnh mẽ, giúp ngành đường sắt lấy lại đà phát triển. Với những quy định mở về đầu tư, phát triển hạ tầng, công nghiệp và nguồn nhân lực, dự thảo này không chỉ giải quyết những tồn tại hiện tại của ngành mà còn tạo ra tiền đề để xây dựng một hệ thống đường sắt hiện đại, đồng bộ và bền vững. Nếu được thông qua, Dự thảo sẽ đưa ngành đường sắt Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới, nơi mà những đoàn tàu hiện đại, tốc độ cao không chỉ là giấc mơ mà trở thành hiện thực, kết nối các khu vực kinh tế trọng điểm, tạo động lực cho phát triển kinh tế và xã hội toàn diện.

Sửa đổi Luật Đường sắt là một bước đi chiến lược của Chính phủ, thể hiện sự quyết tâm cải tổ và phát triển ngành đường sắt Việt Nam theo hướng hiện đại và hiệu quả. Với hành lang pháp lý mới, những kỳ vọng vào một thời kỳ hoàng kim mới đang dần trở thành hiện thực, mang đến hy vọng cho một hệ thống giao thông đường sắt hiệu quả, bền vững, và đủ sức cạnh tranh trong thời đại mới...

Khánh An

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: