Lâm Đồng: Vay tiền xây trường mầm non thành lừa đảo chiếm đoạt

Lâm Đồng: Vay tiền xây trường mầm non thành lừa đảo chiếm đoạt

(Congluan.vn)- Với mong ước có một ngôi trường mầm non tư thục cho trẻ em ở Đà Lạt, chủ đầu tư đã rơi vào cảnh nợ chồng chất vì lãi suất cao và ra tòa với tội danh lừa đảo và chiếm đoạt tài sản.

Ngôi trường mầm non tại Phường 4 TP. Đà Lạt trị giá khoảng 18 tỉ cho 300 trẻ sắp đi vào hoạt đồng thì chủ đầu tư phải ra tòa án hình sự vì vay tiền lãi suất cao.

Nhọc nhằn ước mơ xã hội hóa giáo dục

và xuất khẩu nông sản từ trong nước ra thế giới nhưng hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non của tỉnh cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng cơ sở vật chất nhiều năm liền. Năm 2012, huyện vùng sâu Cát Tiên - tỉnh Lâm Đồng- có 12 xã, thị trấn nhưng đến 4 xã: Quảng Ngãi, Nam Ninh, Tư Nghĩa, Mỹ Lâm nhưng “trắng” trường mầm non. Trẻ bậc MN ở những địa phương này phải đến học chung trường với học sinh tiểu học.

Hàng năm, Lâm Đồng có khoảng 600 trẻ từ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số phải theo học các lớp mẫu giáo 36 buổi trong hè để chuẩn bị vào lớp 1 trường tiểu học. Thế nhưng số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia chiếm tỉ lệ rất thấp, dưới 10%.

Năm 2014, tỉnh Lâm Đồng đang tăng cường thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, trong đó tỉnh sẽ bổ sung vốn đầu tư xây dựng cho các trường mầm non đang xây dựng để đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ trong năm nay. Đến thời điểm này, tỉnh Lâm Đồng có 132/147 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non, đạt tỷ lệ 89,8%; đồng thời ở cấp huyện có 8/12 đơn vị đạt chuẩn, gồm TP Đà Lạt, Bảo Lộc, huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Lâm Hà, Đạ Tẻh, Đạ Huoai.

Theo Sở GD&ĐT Lâm Đồng, ngoài việc còn một số xã chưa đạt chuẩn, công tác phổ cập giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn như cơ sở vật chất, trang thiết bị của một số trường mầm non còn hạn chế; vẫn còn tình trạng phòng học mượn, phòng học tạm, phòng học xây không đúng quy chuẩn, công trình vệ sinh chưa đảm bảo, nhiều trường chưa có các phòng học chức năng. Đội ngũ giáo viên mầm non của tỉnh cũng chưa đủ để đáp ứng việc dạy học 2 buổi/ngày.

Trước những khó khăn của địa phương và mong muốn có một ngôi trường khang trang cho trẻ mầm non, bà Dương Thị Thùy Trâm, 35 tuổi, TP. Đà Lạt, đã quyết tâm bằng mọi giá thực hiện ước mơ này. Đầu năm 2010, Bà Trâm – giám đốc Công ty TNHH Thùy Trâm, được UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt hồ sơ số 42121000618 đầu tư và giao đất xây trường mần non tại phường 4 TP. Đà Lạt trong 50 năm. Vì nôn  nóng để hoàn thành kịp tiến độ xây dựng ngôi trường mầm non, bà Trâm đã vay mượn từ nhiều nguồn. Thế nhưng, dự án chưa đi vào hoạt động thì bà Trâm phải ra tòa hình sự với tội danh lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của người cho vay tiền xây trường với lãi suất 3%/tháng.

Đứt đoạn ước mơ trường mới khang trang cho trẻ mầm non

Ngày 27/6/2014, TAND tỉnh Lâm Đồng hoãn phiên tòa xét xử vụ án Dương Thị Thùy Trâm, 35 tuổi, TP Đà Lạt, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và sẽ mở lại phiên toàn vào ngày 30/6/2014. Nguyên do cơ quan tiến hành tố tụng thay đổi người tiến hành tố tụng quá gấp trong sáng 27-6 nên luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị hoãn phiên tòa.

Theo kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) công an tỉnh Lâm Đồng, bà Trâm có hành vi chiếm đoạt tài sản của bà Đậu Thị Hoa. Trong thời gian tháng 3/2011, bà Trâm vay 160 triệu đồng của bà Hoa. Tiếp đó, do cần tiền xây dựng trường mầm non, Trâm tiếp tục vay tiền bà Hoa với hình thức thế chấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) của bà Xuân Thị Đến (Giấy CNQSDĐ này do con bà Đến thế chấp cho Trâm).

Vì nôn nóng cần tiền xây trường cho kịp tiến độ đưa vào sử dụng hoạt động trong tháng 9/2014 và để tạo lòng tin cho bà Hoa, bà Trâm đã nhờ hai người đóng giả bà Đến (mẹ chồng Trâm) và một người là chồng Trâm tên Nguyễn Thế Trường đến nhà bà Hoa vay 600 triệu đồng. Tại nhà bà Hoa, Trâm viết giấy mượn tiền và cho hai người đóng giả trên cùng ký vào giấy mượn tiền. Do tin tưởng nên bà Hoa cho Trâm mượn tiền.

Cũng theo cơ quan CSĐT do tin tưởng đã có thế chấp giấy CNQSDĐ, nên bà Hoa tiếp tục cho bà Trâm vay tổng cộng là 2,65 tỉ đồng (không kể 160 triệu đồng vay tháng 5-2011) với lãi suất 3%/tháng. Lãi suất 3% cao hơn gấp đôi lãi suất theo quy định của Bộ Luật dân sự tại thời điểm bà Trâm vay. Tổng cộng tiền gốc và lãi bà Trâm mượn của Hoa trên 3,9 tỉ đồng nhưng do khó khăn trong triển khai dự án trường mầm non nên bà Trâm kéo dài thời gian trả nợ và chỉ trả được 78 triệu đồng tiền lãi. Ngày 13/8/2013, bà Hoa làm đơn tố cáo với công an tỉnh Lâm Đồng về việc bà Trâm vay mượn tiền mà không trả, trốn tránh.

Từ 2,65 tỉ đồng tiền gốc mượn xây ngôi trường này, với lãi suất 3% mỗi tháng, đến nay số nợ đã lên đến 3,9 tỉ đồng. Mặc dù không trốn tránh món nợ này nhưng bà Trâm đã được CQCSĐT tống đạt ra tòa án hình sự với tội danh lừa đảo và chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ vào đơn tố cáo của bà Hoa và qua điều tra, Cơ quan CSĐT tỉnh Lâm Đồng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố Trâm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cơ quan CSĐT xác định số tiền Trâm chiếm đoạt của bà Hoa trên 2,65 tỉ đồng, còn 160 triệu đồng Trâm vay mượn của bà Hoa chỉ là tranh chấp dân sự giữa hai người nên không đề cập tới.

Mỏng manh ranh giới mượn tiền và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bà Trâm xác nhận có vay mượn của bà Hoa như Cơ quan CSĐT kết luận. Tuy nhiên, bà Trâm cho rằng bà không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. “Do muốn tạo tin tưởng cho chị Hoa nên tôi có nhờ hai người đóng giả là mẹ chồng và chồng để vay mượn tiền” - bà Trâm nói. Theo lời kể của bà Trâm sáng ngày 17/6/2011, khi làm giấy mượn tiền có chữ ký bảo lãnh của hai người đóng giả nhưng bà Hoa không tin tưởng nên không giao tiền. Giấy mượn tiền buổi chiều 17/6/2011 chỉ xác định bà Trâm vay tiền chứ không cần bảo lãnh và xác định giấy mượn tiền buổi sáng không còn giá trị. “Tôi mượn tiền với mục đích kinh doanh, đã hoàn thành dự án nhưng do cơ sở chưa đưa vào hoạt động nên chưa trả tiền bà Hoa đúng thời hạn, chứ tôi không hề lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - bà Trâm nói.

Đối với trường hợp bà Trâm, Luật sư Nguyễn Huỳnh Minh Trang, cho biết theo quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn 2 dấu hiệu cùng lúc là “hành vi dùng thủ đoạn gian dối” và “ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác”. Nếu chỉ dùng thủ đoạn gian dối hoặc chỉ chiếm đoạt tài sản của người khác với giá trị từ 2 triệu đồng trở lên thì không cấu thành tội phạm về tội này. Sáng 17/6/2011, bà Trâm có nhờ người không phải mẹ chồng và chồng để bà Hoa tin tưởng nhưng bà Hoa cũng không tin tưởng và không cho bà Trâm vay. Đến buổi chiều cùng ngày, khi bà Hoa cho bà Trâm vay cũng đã xác nhận chỉ cho bà Trâm vay chứ hoàn toàn không liên quan đến bà Đến và ông Trường. Chứng tỏ bà Hoa không xem mình bị lừa đảo mà hoàn toàn là quan hệ vay mượn tài sản.

Theo đơn tố cáo, bà Hoa cũng xác nhận cho bà Trâm vay để trả nợ và làm ăn. Trên thực tế bà Trâm cũng đã dùng khoản tiền này trả nợ và đầu tư xây dựng cơ sở mầm non như giấy chứng nhận đầu tư được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp. Việc bà Trâm chưa trả được nợ cũng không phải là dấu hiệu hình sự vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Trường mầm non chưa đưa vào hoạt động nên chưa có nguồn thu trả lại cho bà Hoa (thực tế bà Trâm có trả 78 triệu đồng tiền lãi), đây cũng là quan hệ dân sự.

Trong vụ án này, cơ quan CSĐT kết luận: “do tin tưởng vậy nên bà Hoa cho Trâm vay số tiền 600 triệu, tính lãi suất 3%/tháng và giữ giấy CNQSDĐ… Sau đó, Trâm tiếp tục hỏi vay mượn tiền của bà Hoa”. Từ góc độ pháp lý, luật sư Trang khẳng định: "Như vậy, bà Trâm không có hành vi chiếm đoạt tài sản mà chỉ là quan hệ vay mượn tiền thì việc khởi tố và truy tố bà Trâm là chưa đúng quy định của pháp luật". Do vậy với vụ án trên bà Hoa có quyền khởi kiện vụ án dân sự ra tòa án để yêu cầu bà Trâm trả nợ.

Thiết nghĩ, với mục đích xây trường cho trẻ em mầm non, việc vay mượn tiền của bà Trâm - chủ đầu tư dự án - nằm trong khả năng có thể chi trả nếu dự án tiếp tục được triển khai và đưa vào sử dụng cho năm học 2014-2015. Vì vậy, cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng nên tạo điều kiện để người dân tham gia xã hội hóa giáo dục được yên tâm và tin tưởng vào chính sách của địa phương, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

Ông Đinh Văn Quế - nguyên Chánh tòa Hình sự, TAND Tối cao

Theo quan điểm của ông Đinh Văn Quế nếu người có hành vi gian dối sau khi vay được tiền đã dùng số tiền đó đầu tư vào các lĩnh vực khác không đúng với thỏa thuận với người cho vay (kể cả kinh doanh hợp pháp và không hợp pháp) dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ thì cũng không coi là chiếm đoạt. Nếu người có hành vi gian dối sau khi vay được tiền dùng số tiền đó kinh doanh hợp pháp nhưng do bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ thì không coi là chiếm đoạt; nếu bỏ trốn thì mới coi là chiếm đoạt.

•Nhất Phiến

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: