Siết chặt nhập cư trong Luật Thủ đô: Có tăng Chất lượng sống cho Hà nội?

Siết chặt nhập cư trong Luật Thủ đô: Có tăng Chất lượng sống cho Hà nội?


Chưa tối ưu nhưng cần thiết

So với các lần trước, dự thảo mới có ít điều nhất (29 điều), điểm nhấn là quy định các cơ chế đặc thù cho Hà Nội. Dự luật quy định siết chặt điều kiện nhập cư vào nội thành hơn so với Luật Cư trú. Theo đó, người muốn nhập cư vào nội thành phải có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc nhà thuê ở nội thành của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh nhà ở và đã tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ 3 năm trở lên; nơi đề nghị đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Về điều kiện đăng ký thường trú vào nội thành Hà Nội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho rằng, đối với một số đối tượng chặt hơn so với quy định của luật Cư trú. Cơ quan thẩm tra nhận định việc bổ sung các điều kiện đăng ký nhập hộ khẩu vào nội thành Hà Nội đối với một số đối tượng chặt chẽ hơn tuy chưa phải là giải pháp tối ưu để quản lý dân cư nhưng cũng là một trong những giải pháp cần thiết kết hợp với các giải pháp khác nhằm giãn bớt số lượng dân cư cư trú trong nội thành.

Tuy nhiên, về lâu dài cần phải có các giải pháp tổng thể, đồng bộ về kinh tế - xã hội, quy hoạch, như chuyển các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ra khỏi nội thành, hạn chế việc xây dựng các chung cư cao tầng trong nội thành, xây dựng tuyến đường giao thông thuận lợi kết nối nội thành với ngoại thành và các vùng phụ cận... thì mới có thể giải quyết được gốc rễ của vấn đề.

Không phân biệt đối xử

Lần này, quy định quản lý dân cư trong dự luật được đa số thành viên Ủy ban Thường vụ QH thống nhất. Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của QH Trương Thị Mai đề nghị việc quản lý dân cư cần kết hợp giữa chế tài với các biện pháp kinh tế - xã hội mới có hiệu quả.

Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân góp ý quy định cần “mềm mại và đừng vi phạm vào quyền công dân trong Hiến pháp”. Đồng tình, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Đào Trọng Thi chia sẻ: “Quản lý dân cư bằng điều kiện về nhà ở là phù hợp. Không nên quy định về bằng cấp, việc làm, thể hiện sự phân biệt đối xử và quá xa so với Luật Cư trú”.

Tán thành với dự luật nhưng Ủy ban Pháp luật của QH lo lắng quy định dù có “siết” vẫn không thể hạn chế được người dân đến cư trú tại Hà Nội. Người dân không được đăng ký thường trú vẫn có thể tạm trú tại đó để mưu sinh, mưu cầu hạnh phúc và như vậy áp lực lên cơ sở hạ tầng của Hà Nội vẫn không được giải quyết. Ủy ban Pháp luật đồng tình với ý kiến của bà Trương Thị Mai là cần phải có giải pháp tổng thể, đồng bộ về kinh tế - xã hội, quy hoạch, như chuyển các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ ra khỏi nội thành; đồng thời giảm bớt việc xây dựng nhà ở cao tầng trong nội thành... mới giải quyết được tận gốc vấn đề.

Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu ban soạn thảo phải chuẩn bị dự luật thật tốt để QH có thể thông qua ngay tại kỳ họp cuối năm nay. Cần hết sức hạn chế những điều giao Chính phủ, HĐND TP quy định sau, khiến luật trở nên không rõ ràng, khó hiểu đối với đại biểu QH. “Làm thế nào để thuyết phục được các đại biểu QH rằng những cơ chế này được đưa ra cho một thủ đô duy nhất, khác biệt với các đô thị khác” - Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh.

Siết nội đô, mở vùng ven

Trước đó, khi bàn về vấn đề hạn chế nhập cư vào Hà Nội, nhiều chuyên gia cho rằng, cần thiết không cho tăng cơ học vào khu vực nội đô lịch sử để giảm dần dân số, bảo vệ các giá trị văn hoá tại đây. Đây là bài toán khó vì Luật Cư trú ra đời đã nới lỏng các điều kiện nhập cư. KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Hà Nội kiến nghị, Hà Nội cần tăng thêm các điều kiện nhập cư vào đô thị nội đô lịch sử. Trừ trường hợp đặc biệt, phải có ý kiến của thành phố thì mới được nhập cư. “Luật Cư trú quy định: Hai năm tạm trú, có hợp đồng thuê nhà sẽ được nhập cư thì dễ dàng quá nếu vào nội đô lịch sử”, một chuyên gia nói. Một vấn đề cần quan tâm, theo một chuyên gia khác, là dân số vãng lai vì số lượng rất lớn. Tăng dân số tự nhiên của Hà Nội chỉ 0,8%, còn lại là tăng cơ học. Bên cạnh đó, Hà Nội cần khuyến khích người dân nhập cư vào những khu vực cần phát triển như các đô thị mới, vùng ven, đô thị vệ tinh bằng các chính sách cụ thể gồm xây quỹ nhà giá rẻ, trường học, bệnh viện thuận lợi, theo vị chuyên gia.

Nội đô lịch sử đang chịu áp lực rất lớn về dân số và hạn chế tăng dân số cơ học là một giải pháp. Do vậy, theo ông Nghiêm, ở đây cần cơ chế đặc thù. Phát triển Thủ đô không phải chỉ trong nội đô. Nhưng Hà Nội phải đẩy nhanh phát triển các đô thị khu vực như vành đai 3, vành đai 4. Tuy nhiên, chúng ta chưa có cơ chế giám sát đối với các khu vực này để đồng bộ. Cơ chế đặc thù chỉ áp dụng cho nội đô trung tâm, còn lại vẫn khuyến khích phát triển nhập cư. Ông Nghiêm đề xuất: Phải phân rõ chính sách cho từng vùng, từng khu vực, chứ không thể đánh đồng. Hà Nội tuyệt đối không cấm nhập cư mà hạn chế riêng trong nội đô. Trong khu vực trung tâm thành phố, bình quân dân số hiện nay là 13.800 người/km2. Trong khi đó, cả nước là 2.500 người/km2. Do vậy, Hà Nội phải giảm còn 11.000 người/km2 mới đạt yêu cầu về hạ tầng. “Hà Nội vẫn cần tăng dân số cơ học. Nhưng tăng, giảm vào đâu thì nên trao quyền sắp xếp đó cho Hà Nội”, ông Nghiêm đề xuất.

N.HUY


 Bí Thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị: quá trình chuẩn bị 3 năm (từ năm 2009) những người làm luật đã lấy ý kiến rộng rãi các cấp, các ngành và đông đảo nhân dân. Dự luật sẽ là căn cứ quan trọng định hướng bước đầu xây dựng phát triển Thủ đô. Theo ông Nghị, Hà Nội cần thiết có những quy định riêng về nhập cư xuất phát từ nhu cầu quản lý, khả năng đáp ứng nhu cầu về kinh tế - xã hội, nhất là chỗ ở, việc làm. Dân số tập trung quá nhiều ở nội thành (dân số ở 4 quận nội thành trên 1 triệu người) đang đặt ra quá nhiều vấn đề về hạ tầng khó có thể cải thiện. Ông Nghị đưa ra ví dụ số nhà 56 Hàng Buồm có đến 20 hộ dân sinh sống; khu tập thể hàng trăm hộ dân sinh sống chung một nhà vệ sinh, bể nước.“Như vậy, việc bảo đảm dân số trong nội thành hợp lý theo quy hoạch nhằm đảm bảo điều kiện cần thiết cho chất lượng cuộc sống của người dân. Việc quy định điều kiện đăng ký thường trú chặt chẽ trong nội thành, gắn với điều kiện phải có nơi ở ổn định, thường xuyên là để quản lý dân cư khoa học, chủ động chứ không phải là biện pháp cấm đoán quyền tự do cư trú”, ông Nghị phân tích.
Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hà Nội Phan Hồng Sơn: Cần phải có quy định đặc thù nhằm giải quyết phần nào tình trạng quá tải của nội đô Hà Nội. Hạn chế nhập cư chỉ là biện pháp hành chính trong nhiều giải pháp. Cần hạn chế nhập cư vì để di dời bệnh viện, trường học cần có nhiều thời gian.
GS Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm UB VH, TTN NĐ Quốc hội: Việc quy định các điều kiện chặt chẽ trong nhập cư là cần thiết. Chúng ta cần áp dụng những biện pháp hành chính chặt chẽ hơn để quản lý cư trú mang tính ổn định
Ông Trần Văn Tư, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai: Trong thời điểm hiện nay, dù có quy định bằng các biện pháp hành chính thế nào đi nữa thì sự chuyển dịch dân cư vẫn là điều tự nhiên. Quy định ba năm hay năm năm là ý chí chủ quan của nhà quản lý. Vì thế vấn đề là cần quan tâm đến quản lý quy hoạch, xây dựng vì nếu không thì người dân cứ kiếm những nơi ở có diện tích nhỏ 5-10 m2 để lưu trú rồi vài năm sau cũng thành công dân Hà Nội.
Ông Lê Văn Cuông, nguyên Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa: Để chống quá tải dân cư tại nội đô, các TP này đề xuất, qui định hạn chế nhập cư vào nội đô như một giải pháp tình thế. Tuy nhiên, quy định này không mấy khả thi. Vì kế sinh nhai, người dân vẫn cứ tràn vào nội đô làm ăn, sinh sống, họ thuê nhà để ở, thậm chí ngủ cả vỉa hè... Vấn đề là, để chống quá tải hạ tầng đô thị, các thành phố này phải có giải pháp căn cơ, lâu dài. Nếu quy định theo kiểu chạy theo, giải quyết phần ngọn, thì người dân sẽ rất khổ sở vì cuộc sống không ổn định.

Xem thêm

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: