Siêu ủy ban và câu chuyện "loay hoay" khoảng trống pháp lý

(CLO) Thành lập một uỷ ban quản lý vốn nhà nước là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước với những kỳ vọng mở ra hướng phát triển tốt cho doanh nghiệp, đồng thời cũng là "chiếc máy soi" chống lợi ích nhóm, tham nhũng tiêu cực, lạm dụng chức vụ quyền hạn đối với các tập đoàn, tổng công ty.

Tuy nhiên, hơn một năm chuyển từ các bộ chủ quản về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (UBQLV còn được gọi là “siêu ủy ban”), các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lớn vướng hàng loạt khó khăn, thậm chí có đơn vị “tha thiết” xin chuyển về cơ quan chủ quản cũ.

Đây chưa thể là thước đo hiệu quả hoạt động của Ủy ban vốn còn "non trẻ" với nhiều bỡ ngỡ ban đầu khó tránh khỏi. Nhưng rõ ràng, qua quá trình thực hiện đang cho thấy những vướng mắc về chính sách, pháp luật và cần thiết phải có những "liều thuốc" để tháo gỡ kịp thời.

Xin nhắc lại chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc làm việc của Thường trực Chính phủ với Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp sau 10 tháng cơ quan này hoạt động (Siêu ủy ban chính thức ra mắt ngày 30/9/2018). Thủ tướng cho rằng, 2 việc cấp bách mà Uỷ ban Quản lý vốn cần rút kinh nghiệm sau 10 tháng hoạt động, là phối hợp chặt chẽ, tháo gỡ ngay khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vấn đề của 19 tập đoàn, tổng công ty được giao về Uỷ ban này. Ngoài ra, cần kiện toàn tổ chức, tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Ủy ban.

“Ủy ban Quản lý vốn không thể là cơ quan quan liêu kiểu cũ, không thể là một cấp hành chính tạo gánh nặng, mà cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn nữa", Thủ tướng nói và lưu ý, trong kinh tế thị trường thời cơ là quan trọng, do đó, Ủy ban cần trả lời nhanh, quyết đáp nhanh những vấn đề tập đoàn, tổng công ty xin ý kiến.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Uỷ ban cần chủ động hơn, đổi mới cách làm trong xử lý các vấn đề cụ thể của các tập đoàn, tổng công ty. "Trách nhiệm của “siêu ủy ban” là phối hợp chặt chẽ, tạo mọi điều kiện phát triển, nhưng tăng cường kiểm tra, giám sát, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản Nhà nước trong quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình sắp xếp cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước. Phải chống lợi ích nhóm, tham nhũng tiêu cực, lạm dụng chức vụ quyền hạn đối với các tập đoàn, tổng công ty", Thủ tướng nhắc nhở, đồng thời nhấn mạnh Chính phủ, các bộ cần có cơ chế phân cấp mạnh hơn cho tập đoàn, tổng công ty trên cơ sở đề nghị của Ủy ban. Cùng đó, cơ quan này cần tập trung vào kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả, "giao quyền phải đi liền với trách nhiệm".

Ảnh Vietnamnet

Ảnh Vietnamnet

Tuy nhiên, 7 tháng sau, tại cuộc làm việc ngày 20/2/2020 của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đã giao Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp vẫn bộc lộ hàng loạt khó khăn, bất cập, những "nút thắt" về mặt chính sách, pháp luật chưa được tháo gỡ. Đồng nghĩa với nhiều tập đoàn, tổng công ty đang cảm thấy “mắc kẹt” tại “siêu ủy ban” với hàng loạt vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Câu chuyện về Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) muốn quay về bộ chủ quản cũ là một điển hình. Tại cuộc làm việc của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đã giao Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ngày 20/2, ông Vũ Anh Minh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đường sắt (VNR), cho biết: Thời điểm trước khi Tổng công ty chưa chuyển về Ủy ban, việc giao dự toán ngân sách hàng năm được Bộ Giao thông vận tải giao về trước tháng 12. Sau đó, Tổng công ty sẽ đặt hàng dịch vụ công ích với 20 công ty trực thuộc để thực hiện, đảm bảo an toàn chạy tàu (gồm: tuần đường, gác chắn, duy tu, bảo trì, sửa chữa nhỏ,... ).

Sau khi Tổng công ty Đường sắt chuyển về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, Bộ GTVT không thể thực hiện việc giao dự toán ngân sách theo cơ chế trên do vướng Điều 49, Luật Ngân sách Nhà nước về phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước do Tổng công ty này không phải là đơn vị thuộc Bộ.

Từ ngày 1/1/2020, 20 doanh nghiệp công ích thuộc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đang thực hiện dịch vụ công ích mà không được ký kết hợp đồng. “Trên 1 vạn người không có tiền lương, chỉ có thể dừng tàu thôi. Nhưng cho chạy tàu thì sai luật, không cho chạy tàu cũng sai”, ông Minh băn khoăn.

Tuy nhiên, trả lời trong buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2/2020 chiều qua (3/3), bà Nguyễn Thị Phú Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho rằng: Thực hiện Nghị định 131/2018/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 29/9/2018 là 19 tập đoàn, tổng công ty được bàn giao nguyên trạng từ 5 bộ về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai thực hiện, Ủy ban nhận được biên bản bàn giao từ các bộ về có 259 nhiệm vụ dở dang, trong đó còn rất nhiều nhiệm vụ theo nguyên tắc phải triển khai thực hiện từ các cơ quan chủ sở hữu đã thông qua, phê duyệt trước năm 2017, tức là trước khi được chuyển về Ủy ban. Trong năm 2019, có rất nhiều nhiệm vụ là triển khai thực hiện trước năm 2017 nhưng chưa được các cơ quan đại diện chủ sở hữu triển khai, trong đó có một số dự án lớn. Trong quá trình triển khai thực hiện đến thời điểm triển khai có dự án triển khai cách đây 10 năm, 20 năm, đến nay có vấn đề nảy sinh.

Theo nguyên tắc khi chuyển giao cần chuyển giao nguyên trạng. Qua quá trình triển khai thực hiện, thấy rằng trước kia trong trình tự, thủ tục phê duyệt các dự án của các doanh nghiệp, do vướng các dự án đầu tư công nên một số quy trình, trình tự, thủ tục chưa rõ. Liên quan đến một số dự án sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, trong quá trình triển khai thực hiện, thẩm quyền phê duyệt dự án thì có dự án thẩm quyền thuộc Thủ tướng, có dự án thuộc thẩm quyền của địa phương, có dự án thẩm quyền liên quan đến cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trong quá trình triển khai thực hiện có những dự án trong khối doanh nghiệp đôi khi thực hiện theo một số quy định của luật chuyên ngành. Khi về Ủy ban thì cũng chiếu theo những quy định, trình tự, nếu thấy không phù hợp, đánh giá xác định dự án không hiệu quả thì Ủy ban sẽ yêu cầu làm rõ những nội dung này. Khi nào đưa ra phương án phù hợp thì mới có căn cứ trình các cấp thẩm quyền cũng như thực hiện trình tự thủ tục theo đúng pháp luật.

Đang có 5 tập đoàn, tổng công ty sử dụng vốn ngân sách nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, quản lý liên quan đến việc chuyển tải điện cũng là kết cấu hạ tầng công, tài sản chung của quốc gia thì hiện nay vốn ngân sách nhà nước vẫn đang giao về Tập đoàn để triển khai các dự án đầu tư cũng như các dự án liên quan về công tác chuyển tải, nối điện về nông thôn. Đồng thời Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng vẫn bố trí vốn cho các dự án của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và một số dự án thuộc Tổng Công ty Thuốc lá…

Nhưng có 2 đơn vị là Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam và Tổng Công ty Đường cao tốc Việt Nam, từ trước đến nay được giao vốn qua Bộ GTVT, với các dự án có liên quan đến công tác bảo trì, bảo dưỡng. Về vận tải đường sắt mặc dù Tổng Công ty đã về Ủy ban từ tháng 10/2018, nhưng kế hoạch năm 2019 vẫn là do Bộ GTVT giao vốn bình thường. Tuy nhiên, liên quan đến bảo trì kết cấu hạ tầng, yêu cầu đặt ra là theo cơ chế đặt hàng. Ở đây có 2 luồng ý kiến là vẫn triển khai như những năm trước và luồng thứ hai là theo cơ chế đặt hàng. Nhưng nếu thực hiện theo cơ chế đặt hàng thì dù ở Ủy ban Quản lý vốn hay Bộ GTVT, vẫn phải thực hiện theo cơ chế chung.

Liên quan đến những bất cập mà VNR phản ánh, ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng cho rằng, vướng mắc là do VNR chứ không phải của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan. “Từ khi chuyển về UBQLV, VNR không thay đổi để phù hợp với các quy định mới. Họ không đổi mới mô hình tổ chức theo các quy định của luật mà lại muốn sửa luật để phù hợp với chính hoạt động của họ”, ông Kiên nói.

Theo ông Kiên, vướng mắc trong việc giao vốn không phải từ Bộ GTVT xuống VNR mà là vướng từ VNR xuống 20 công ty “con”. 20 công ty này là các công ty cổ phần nên theo quy định của pháp luật phải tổ chức đấu thầu, trong khi đó VNR lại muốn “có quyền” giao vốn cho các đơn vị trên.

Chưa bàn đến chuyện đúng sai trong câu chuyện của Tổng công ty đường sắt nhưng rõ ràng, khó khăn về các thủ tục pháp lí cũng đang "đe dọa" hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn khác kể từ khi về "ngôi nhà mới" - Siêu ủy ban. Dự án “xuyên thập kỉ” không được cấp giấy phép xây dựng của Vietnam Airlines là một ví dụ. 

Theo lãnh đạo Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), không chỉ ảnh hưởng nặng đến hoạt động kinh doanh bởi dịch Sars- CoV- 2 do lượng khách đi nước ngoài từ Việt Nam giảm trung bình 50% so với cùng kỳ. Lượng khách trong nước giảm trên dưới 50%. Khu vực Bắc Á, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông giảm 80-100%. Khách từ Nhật Bản đang lao dốc mạnh, giờ giảm 50% nhưng thời gian tới có thể giảm 70% mà những vướng mắc về thủ tục trong phê duyệt dự án đầu tư đang khiến doanh nghiệp rơi vào trạng thái đình trệ. Cụ thể, Vietnam Airlines đã trình phương án đầu tư máy bay 2 năm nay, nhưng UBND TP. Hà Nội chưa trình lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

“Thời kỳ trước, từ lúc chúng tôi lập dự án đến lúc trình Thường trực Chính phủ, dài nhất là mất 6 tháng, ngắn nhất là 3 tuần. Còn bây giờ trình 2 năm rồi không thấy chỗ nào cả”, vị lãnh đạo này cho biết.

Một ví dụ khác được lãnh đạo Vietnam Airlines dẫn chứng liên quan đến vướng mắc thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng ở khu vực sân bay. Tổng công ty đã lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay từ 2010, nhưng 10 năm qua dự án đã “xuyên thập kỉ” mà không được cấp giấy phép xây dựng. Vietnam Airlines đã hỏi từ UBND TP. Hà Nội đến Bộ Xây dựng, rồi nhiều cơ quan khác nhưng vẫn “giậm chân tại chỗ”.

Câu chuyện "vướng" của Tổng Cty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cũng không khác là bao. Theo lãnh đạo VEC, sau khi chuyển về UBQLV, các dự án cao tốc dở dang của VEC đã gặp nhiều vướng mắc. Các vướng mắc này cũng chủ yếu liên quan tới phần vốn ngân sách cho các dự án, tương tự như ngành đường sắt. Điển hình là dự án cao tốc Bến Lức - Long Thành, cách đây ít ngày, VEC đã báo cáo Chính phủ cho tạm dừng xây dựng tới khi có vốn để tránh phát sinh các rủi ro pháp lý. Cùng đó, dự án cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi còn một số công việc dở dang (như đường gom, nút giao) bị đình trệ do thiếu vốn.

Từ năm 2019, VEC đã báo cáo các cấp có thẩm quyền về vướng mắc, đề xuất giải pháp, đặc biệt về vốn đối ứng từ ngân sách, gia hạn các hiệp định vay nước ngoài hết hạn. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa được tháo gỡ. Thậm chí, VEC đề xuất cho sử dụng tiền thu được từ thu phí các cao tốc đang khai thác để xử lý các dự án đang đầu tư, nhưng chưa được cơ quan nào quyết định.

Ông Nguyễn Đức Chi, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho rằng, nhiều kiến nghị, vướng mắc không được giải quyết. Các văn bản trả lời thường chiếu theo quy định pháp luật, thậm chí trích điều luật này điều luật kia rồi yêu cầu làm đúng theo quy định pháp luật.

Bình luận về sự việc, một số chuyên gia kinh tế cho rằng: Theo thống kê của Vụ Tổng hợp của VPCP, có 10/13 tập đoàn, tổng công ty nêu 91 kiến nghị, gồm 65 kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng và 26 kiến nghị với Ủy ban. Dù vậy, với một đơn vị mới vận hành hơn 1 năm, có mô hình đặc thù, khác biệt với nhiều bỡ ngỡ ban đầu là khó tránh khỏi và đây chưa thể là thước đo hiệu quả hoạt động của Ủy ban. Nhưng rõ ràng, câu chuyện của Tổng công ty đường sắt và các doanh nghiệp khác cho thấy hành lang pháp lý cho việc hoạt động của một cơ quan mới như Ủy ban đang có vấn đề vướng mắc.

Nghị định số 131/2018/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban chưa "phủ" được hết những khó khăn này, khiến Ủy ban hoạt động trong tình thế thiếu "cây gậy pháp lý" rõ ràng, vững chắc. Đồng nghĩa, những khoảng trống pháp lý phải được lấp đầy, tức cần những bản kiến nghị giải pháp cấp bách trong đó chủ yếu liên quan đến Luật Đầu tư, Luật số 69, Luật Xây dựng... Nghị quyết về việc xử lý các vướng mắc trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp thuộc Ủy ban. Ngoài ra, cán bộ của Ủy ban phải tinh nhuệ và dám chịu trách nhiệm…có như vậy Siêu Uỷ ban mới có cơ để hoạt động hiệu quả theo đúng mục đích, mong muốn ban đầu khi thành lập.

Đồng quan điểm trên, TS Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế T.Ư, "Cha đẻ" của của đề án thành lập UBQLV cho rằng, một khi tư duy thay đổi thì hành động mới thay đổi, nếu vẫn còn vương vấn tư duy kế hoạch hóa tập trung với hành chính quan liêu, chưa dứt khoát, còn dùng dằng thì không thể chuyển động được.

Theo ông Cung, nhân sự của Ủy ban cũng phải có tầm nhìn, giỏi ngang với những người giỏi nhất của các tập đoàn, tổng công ty mà mình quản lý. Mà muốn có những người giỏi như thế thì chắc chắn phải có cơ chế tiền lương theo thị trường lao động quốc tế, chứ không phải đưa những công chức từ chính quyền sang. "Ghế" ở "siêu Ủy ban" chắc chắn và không bao giờ nên là "ghế thử quyền lực".

Tại buổi làm việc với Tổ công tác của Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh cũng thừa nhận, trong quá trình quá thực hiện thì vướng mắc lớn nhất là chính sách, pháp luật. Để khắc phục, Uỷ ban đã phối hợp với các bộ ngành để tháo gỡ, sẵn sàng nhận thêm nhiệm vụ được giao từ Chính phủ. 

Ông Nguyễn Hoàng Anh cho biết sẽ nghiên cứu thành lập hội đồng cấp cao, bao gồm lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty để ngồi lại với nhau hàng tháng, hàng quý, nhằm đánh giá những việc làm được, rà soát những khó khăn vướng mắc để kịp thời giải quyết.

Với những động thái quyết liệt chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt người đứng đầu Chính phủ - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hy vọng trong thời gian tới lổ hổng pháp lý sẽ được lấp đầy và những "nút thắt" giữa "siêu ủy ban" với các doanh nghiệp sẽ sớm được tháo gỡ, để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp phát triển như kỳ vọng.

Tại cuộc họp giữa Tổ công tác của Thủ tướng với Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Siêu Ủy ban) ngày 20-2, bà Nguyễn Thị Phú Hà, Phó chủ tịch Siêu Ủy ban cũng thừa nhận, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm quản lý vốn.

Theo bà Hà, đến nay chưa có quy định về việc điều động cán bộ có năng lực, chuyên môn và vị trí việc làm phù hợp từ các bộ, ngành, địa phương về ủy ban vốn.

Với chức năng quản lý kinh doanh vốn nhà nước, Siêu Ủy ban phải cử cán bộ kiểm soát viên nhà nước đối với 13 tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nhưng đến nay, Siêu Ủy ban mới cử 21 kiểm soát viên xuống 13 tập đoàn, tổng công ty. Số lượng kiểm soát viên nhà nước hiện chưa đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ kiểm soát hoạt động các tập đoàn, tổng công ty với hoạt động kinh doanh đa ngành, phức tạp. "Cần bổ sung ít nhất 25 kiểm soát viên tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để bảo đảm hiệu quả giám sát" - bà Hà nhấn mạnh.

Thành Vinh

Xem thêm

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Cỡ chữ bài viết: