Tái cơ cấu TKV: Phải cắt giảm đầu tư ngoài ngành

Tái cơ cấu TKV: Phải cắt giảm đầu tư ngoài ngành



TKV đã đến lúc cần phải tái cơ cấu

Việc tái cơ cấu tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) hiện nay là một đòi hỏi khách quan. Riêng lĩnh vực công nghiệp than, TKV đang đứng trước nguy cơ không thực hiện được nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ giao là tham gia các cân đối lớn về than, không khai thác đủ và cũng không có khả năng nhập khẩu đủ than cho nền kinh tế.

Mô hình tăng trưởng của TKV trong quá khứ là đẩy mạnh xuất khẩu than dựa chủ yếu vào thế mạnh cạnh tranh là bán giá rẻ. Mô hình tăng trưởng này đã tỏ ra sai lầm. Mục đích xuất khẩu than là để bù giá và tích lũy đầu tư. Thời gian qua, với gần 50% sản lượng than được xuất khẩu nhưng việc đầu tư tái sản xuất mở rộng của ngành than gần như bằng không.

Bên cạnh đó, qua hơn 16 năm phát triển (từ mô hình tổng công ty 91 đến mô hình tập đoàn), TKV đã có hơn 10 lần tái cơ cấu - tổ chức lại sản xuất ở các cấp độ quy mô khác nhau, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng không bền vững (chi phí sản xuất ngày càng cao, suất đầu tư ngày càng lớn, lợi nhuận ngày càng phụ thuộc vào xuất khẩu khoáng sản, cơ cấu sản phẩm ngày một xấu, công nhân mỏ bỏ việc ngày càng nhiều...).

Trong bối cảnh như vậy, vấn đề đặt ra đối với TKV là cần phải tái cơ cấu, nhưng quan trọng là tái cơ cấu như thế nào.

Những mâu thuẫn cần xử lý

Để tái cơ cấu hay tổ chức lại, chúng ta phải xác định được những khó khăn, những mâu thuẫn đang kìm hãm sự phát triển của TKV. Mâu thuẫn lớn nhất hiện nay của TKV là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và khả năng phát triển.

Trước hết, để cung cấp đủ than cho nền kinh tế, trong vòng 15- 20 năm tới, TKV phải tăng sản lượng khai thác lên hơn ba lần so với hiện nay. Đây là điều viễn tưởng. Tính bình quân về trữ lượng than, Việt Nam chỉ có khoảng 23- 25 tấn/người (của thế giới trên 150 tấn/người). Trong gần 17 năm qua, sản lượng khai thác than hàng năm tăng rất nhanh, bình quân mỗi năm TKV khai thác 25- 30 triệu tấn than, tổng sản lượng than đã được khai thác khoảng 0,5 tỉ tấn, nhưng trữ lượng than được thăm dò để bổ sung hầu như không tăng. Bể than vùng Đông Bắc hiện nay chỉ còn dưới 2 tỉ tấn trữ lượng được phê duyệt. Việc thăm dò để bổ sung trữ lượng bể than Đông Bắc rất khó khăn và nếu may mắn, tối đa cũng chỉ có thể thêm được 0,5 tỉ tấn.

Về trữ lượng than, TKV đang chuyển từ mô hình “bóc ngắn, cắn dài” sang “ăn cả vỏ”. Các dự án mỏ mới có tổng mức đầu tư lên tới nhiều tỉ đô la nhưng có trữ lượng than ít, nguy cơ “ném tiền qua cửa sổ” nhiều.

Bể than đồng bằng sông Hồng có tiềm năng rất lớn. Mặc dù được Thủ tướng giao thăm dò từ năm 2008, nhưng đến nay, đề án thăm dò của TKV trình xin cấp phép vẫn phải chờ ở Cục Địa chất khoáng sản.

Thứ hai, nhu cầu đầu tư tái sản xuất mở rộng lực lượng sản xuất rất cao trong khi năng lực và trình độ tổ chức xây dựng các mỏ mới rất thấp. Năng lực xây dựng cơ bản của ngành than hiện mới chỉ đáp ứng được yêu cầu tái sản xuất giản đơn. Toàn bộ các mỏ đều không có tái sản xuất mở rộng. Trong tương lai, than cấp cho điện chắc chắn còn thiếu, nhưng hàng loạt dự án nhà máy tuyển than để xuất khẩu vẫn đang được triển khai.

Thứ ba, lực lượng cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản như thời bao cấp ngày càng giảm. Việc đào tạo kỹ sư mỏ ngày nay được xã hội hóa để chạy theo số lượng, chủ yếu là tại chức ở các trường dạy nghề. Kết quả là trình độ “thầy” và “thợ” đều thấp, không thể hy vọng các giải pháp công nghệ mới và càng không thể áp dụng hiệu quả kỹ thuật tiên tiến.

Thứ tư, cơ chế trả lương của TKV đang ngày càng kém hấp dẫn. Khai thác khoáng sản là một ngành công nghiệp siêu lợi nhuận (vì không có nguyên vật liệu chính, thường chiếm 30- 50% trong giá thành), nhưng tỷ trọng tiền lương trong giá thành sản phẩm của TKV còn rất thấp, dưới 20%. Nếu tính cả yếu tố nhà ở đã được đưa vào lương, thì tỷ trọng tiền lương trong giá thành than hiện nay còn thấp hơn thời bao cấp. Tiền lương công nhân thực tế tính theo giờ trong ngành than chưa bằng một phần năm trong ngành dầu khí (cũng khai thác khoáng sản và có mức độ nặng nhọc và nguy hiểm ít hơn nhiều). Vấn đề đặt ra ở đây là cơ cấu lao động và cơ chế trả lương. TKV có thể nâng tỷ trọng tiền công trong giá thành sản phẩm than lên tới mức hấp dẫn (khoảng 40%) mà không làm tăng giá thành nếu có cơ cấu lao động và cơ chế trả lương phù hợp.

Những ưu tiên khi tái cơ cấu

Tái cơ cấu phải theo chuẩn mực chung, đó là: có ưu tiên phát triển và có cương quyết xóa bỏ. Muốn vậy, cần phân biệt ba loại doanh nghiệp: (i) làm ra lợi nhuận chủ yếu; (ii) không làm ra lợi nhuận nhưng có vai trò quan trọng; (iii) không làm ra lợi nhuận và không có vai trò quan trọng.

Doanh nghiệp loại (i) là những đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) “đứng mũi chịu sào”, đảm bảo các cân đối lớn của Chính phủ và mang lại giá trị thặng dư chủ yếu cho TKV, cần được ưu tiên phát triển, gồm: các công ty trực tiếp khai thác than lộ thiên và hầm lò; các nhà máy tuyển than; các cảng than; và trong lĩnh vực khoáng sản có mỏ đồng Sinh Quyền, nhà máy luyện đồng Tằng Lỏng.

Doanh nghiệp loại (ii) mặc dù không làm ra lợi nhuận, nhưng có vai trò quan trọng không thể thay thế và TKV buộc phải làm, gồm: cấp cứu mỏ; hóa chất mỏ; thăm dò than vùng Quảng Ninh; phát triển bể than đồng bằng sông Hồng (thăm dò, thử nghiệm công nghệ); xây dựng mỏ; bảo vệ môi trường; cung ứng than ở ba miền; nhiệt điện chạy than; cơ khí mỏ; nghiên cứu tư vấn; dạy nghề mỏ; giám định; hoa tiêu; nhập khẩu than.

Doanh nghiệp loại (iii) không làm ra lợi nhuận, hoặc chỉ làm tăng chi phí của các đơn vị khác và không quan trọng (có thể thay thế, sáp nhập, xã hội hóa, tư nhân hóa, chuyển đổi, thu hẹp hoặc giải tán...) gồm các lĩnh vực: khoáng sản ngoài than và đồng, lắp ráp ô tô, đóng tàu, thương mại, vận tải thủy, vận chuyển thợ mỏ, tài chính, bảo hiểm, y tế, du lịch, khách sạn, tạp chí, thăm dò địa chất ngoài than, xuất khẩu than.

Để tái cơ cấu, TKV cần đánh giá khách quan các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh đa ngành. TKV làm nhiệt điện chạy than lò tầng sôi (CFB) là phù hợp và đúng hướng vì than là sản phẩm chính, nhiệt điện chạy than cho phép kéo dài “chuỗi sản phẩm” chính. Sau các dự án nhiệt điện chạy than, lẽ ra TKV cần phát triển tiếp các lĩnh vực hóa than, chế biến sâu sản phẩm than thành các sản phẩm có giá trị lớn như dầu (CTL), khí (CTG), methanol... Rất tiếc, thay vì nâng cao giá trị, tăng thêm lợi nhuận và kéo dài chuỗi sản phẩm chính (là than) của mình, TKV đã kinh doanh đa ngành theo hướng “khép kín” xung quanh hòn than nhằm chia lợi nhuận từ than và hoàn toàn thủ tiêu cạnh tranh (như tài chính, bảo hiểm, bất động sản, du lịch, khách sạn, đào tạo, thương mại, lắp ráp ô tô, hoa tiêu, cảng biển, đóng tàu...).

TS. Nguyễn Thành Sơn

(Giám đốc BQL các dự án Than đồng bằng sông Hồng - TKV)

Xem thêm

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: