Thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ: Cơ hội khơi thông nguồn vốn cho tài sản trí tuệ

Việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước sẽ mở ra cơ hội cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư R&D.

Không chỉ bảo hộ, đã đến lúc thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ

Để thương mại hóa tài sản trí tuệ thực sự trở thành động lực phát triển, đồng chí Phạm Đại Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Trước hết, khung pháp lý phải bắt kịp xu thế toàn cầu, tạo hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định cho các chủ thể. Bên cạnh đó, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về định giá, tín dụng, thuế và các chính sách ưu đãi tài chính...

Việt Nam cũng phải cân nhắc lựa chọn mô hình sàn giao dịch tài sản trí tuệ, sandbox tài chính và quỹ đầu tư chuyên biệt phù hợp với điều kiện trong nước. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ đầu tư và các tổ chức trung gian cũng là yếu tố cần thiết.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh cho biết, Chính phủ đã giao Bộ KH&CN chủ trì, khẩn trương rà soát các quy định về sở hữu trí tuệ, kịp thời nghiên cứu, đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Một trong các chính sách được đề xuất trong sửa đổi lần này là chính sách: Hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ trưởng Hoàng Minh dẫn chứng xu thế quốc tế cho thấy các quốc gia phát triển đều dịch chuyển mạnh trọng tâm từ bảo hộ sang khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Tại EU, trong giai đoạn 2017 - 2019, các ngành thâm dụng sở hữu trí tuệ đã đóng góp 47% giá trị GDP, tại Mỹ chiếm 41% năm 2019 và Hàn Quốc là 43,1% năm 2015.

Bên cạnh đó, hệ thống tài chính – tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tài chính dựa trên tài sản trí tuệ lớn nhất thế giới, với hệ sinh thái tài chính sở hữu trí tuệ toàn diện, giúp khoảng 37 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn thông qua thế chấp bằng sáng chế và nhãn hiệu, với giá trị tài trợ đạt khoảng 854 tỷ nhân dân tệ năm 2023.

Hơn nữa, xu hướng đầu tư vào tài sản vô hình ngày càng vượt trội so với tài sản hữu hình. Theo Báo cáo điểm nhấn về đầu tư tài sản vô hình toàn cầu năm 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), giai đoạn 2008 - 2023, đầu tư vào tài sản vô hình tăng gần bốn lần so với đầu tư vào tài sản hữu hình; riêng tại Hoa Kỳ, giá trị đầu tư này đã tương đương khoảng 15% GDP trong năm 2024.

Tại Việt Nam, số lượng đơn sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt tăng trung bình 11,7% mỗi năm trong giai đoạn 2014–2024. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh tiềm năng sáng tạo ngày càng lớn của người Việt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động thương mại hóa còn rất hạn chế, lý do từ nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó khung pháp lý hiện hành, dù đã tạo nền tảng bảo hộ, nhưng chưa đủ mạnh để thúc đẩy ứng dụng và khai thác thương mại.

Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, quá trình rà soát cho thấy, nhiều quy định về xác lập, khai thác, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn, còn phân tán và thiếu tính đồng bộ với các luật khác.

Dự thảo sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ lần này hướng đến khắc phục những bất cập trên bằng cách mở rộng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản trí tuệ, thiết lập cơ chế minh bạch cho hoạt động góp vốn, chuyển nhượng, định giá và thế chấp, đồng thời khuyến khích hình thành và phát triển các tổ chức trung gian như sàn giao dịch, văn phòng chuyển giao công nghệ, tổ chức định giá tài sản trí tuệ.

Các điều khoản được đề xuất sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và phân tích các điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Các điều khoản được thiết kế không chỉ nhằm giải quyết bất cập trước mắt, mà còn hướng đến việc tạo dựng một khung pháp lý có khả năng thích ứng trong dài hạn, nhất là trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng.

Các chuyên gia đều cho rằng thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là khâu quyết định để chuyển hóa các kết quả sáng tạo thành giá trị kinh tế và lợi ích xã hội. Một hành lang pháp lý mạnh, đồng bộ sẽ giúp sáng chế của người Việt không chỉ được bảo hộ, mà quan trọng hơn, được khai thác hiệu quả, tạo ra giá trị kinh tế và động lực phát triển bền vững.

thuong-mai-hoa-tstt-0939.jpg

Mở khóa dòng vốn cho tài sản trí tuệ

Dù được đánh giá là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, tài sản trí tuệ vẫn chưa thể tham gia thị trường tín dụng bởi thiếu cơ chế định giá, xử lý và bảo đảm đủ rõ ràng cho ngân hàng. Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), chỉ riêng năm 2024, Cục đã cấp hơn 53.600 văn bằng, tiếp nhận gần 153.000 đơn đăng ký. Thực tế cho thấy, số lượng tài sản trí tuệ (TSTT) của doanh nghiệp, người dân dưới nhiều hình thức khác nhau ngày càng gia tăng. Thế nhưng, khả năng đưa TSTT vào ngân hàng làm tài sản bảo đảm vẫn rất hạn chế, tạo nên nghịch lý khi tài sản có giá trị lại không thể “mở khóa” dòng vốn.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Vũ Ngọc Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, nguyên nhân chủ yếu nằm ở bốn nhóm rủi ro lớn mà hệ thống tín dụng chưa thể vượt qua. Rủi ro đầu tiên là định giá, khi giá trị TSTT biến động mạnh theo vòng đời công nghệ và sự phản ứng của thị trường. Không có chuẩn mực định giá thống nhất hay dữ liệu đủ lớn để tham chiếu, ngân hàng rất khó xác định mức giá trị hợp lý. Ngay cả Chuẩn mực thẩm định giá tài sản vô hình theo Thông tư 37/2024/TT-BTC cũng chủ yếu dựa vào phương pháp so sánh, trong khi TSTT mang tính độc nhất nên khó tìm được đối tượng tương đồng.

Rào cản tiếp theo là tính thanh khoản thấp. Khác với bất động sản hay hàng hóa có thị trường giao dịch rõ ràng, TSTT thường gắn với hoạt động kinh doanh riêng biệt của doanh nghiệp, khiến việc bán lại khi xử lý nợ xấu vô cùng khó khăn. Nhiều TSTT lại ở dạng đồng sở hữu hoặc liên quan chuỗi giá trị phức tạp, càng làm việc định đoạt kéo dài và rủi ro tăng lên. Thêm vào đó, dù Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP cho phép sử dụng quyền SHTT làm tài sản bảo đảm, Luật SHTT hiện hành vẫn thiếu các quy định đặc thù về đăng ký, công bố và xử lý khi thế chấp, khiến cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm còn lúng túng và ngân hàng e ngại tranh chấp.

Một hạn chế sâu hơn là chính các ngân hàng hiện thiếu đội ngũ thẩm định chuyên sâu về tài sản vô hình. Việc phải thuê tổ chức định giá độc lập làm tăng chi phí và thời gian xử lý hồ sơ, trong khi biến động giá trị lại buộc ngân hàng phải liên tục kiểm tra, tái thẩm định. Việt Nam cũng chưa có sàn giao dịch TSTT ở quy mô quốc gia hay cơ sở dữ liệu định giá mở để ngân hàng tham chiếu. Trong bối cảnh đó, TSTT dù có giá trị lớn vẫn kém hấp dẫn hơn nhiều so với tài sản hữu hình truyền thống.

Đặt trong tổng thể khung pháp lý hiện hành, nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ (Dự thảo) dù mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng TSTT làm tài sản bảo đảm, nhưng vẫn thiếu cơ sở đủ chặt chẽ để áp dụng trong hoạt động tín dụng.

TS. Nguyễn Thái Cường, Phụ trách Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nhận định rằng điều kiện tiên quyết để TSTT thực sự tham gia thị trường tín dụng không chỉ nằm ở việc “được phép trên giấy”, mà phải được đặt trong một khung pháp lý rõ ràng, thống nhất và đủ khả thi để ngân hàng lượng hóa rủi ro.

Ông cho rằng, Dự thảo cần làm rõ tình trạng pháp lý của quyền sở hữu tài sản trước khi cho thế chấp; chỉ những quyền đã được xác lập rõ ràng, không vướng tranh chấp, không bị yêu cầu hủy bỏ hoặc đã hết hiệu lực mới nên được chấp nhận. Đồng thời, cần có cơ chế ghi nhận và công bố công khai việc thế chấp tại cơ quan sở hữu tài sản nhằm tạo hiệu lực đối kháng với người thứ ba, tránh phát sinh tranh chấp sau này.

Một yêu cầu khác mang tính then chốt là định giá. Giá trị TSTT không thể dựa trên mức doanh nghiệp tự đưa ra, mà phải tuân thủ chuẩn mực thẩm định tài sản vô hình và được thực hiện bởi tổ chức thẩm định độc lập. Ngân hàng cũng cần có quyền yêu cầu định giá lại khi thị trường, tình trạng pháp lý hay khả năng khai thác tài sản thay đổi.

Quan trọng hơn cả, khâu xử lý tài sản khi phát sinh nghĩa vụ nợ phải được luật hóa rõ ràng. Quyền sở hữu tài sản cần có khả năng chuyển nhượng, đấu giá hoặc để ngân hàng nhận chính tài sản đó thay thế nghĩa vụ, với trình tự đơn giản và minh bạch. Sự phối hợp giữa cơ quan sở hữu tài sản và tổ chức tín dụng trong việc thay đổi chủ sở hữu, xử lý các hợp đồng li-xăng hay đồng sở hữu cũng phải được quy định cụ thể để tránh xung đột. Trong trường hợp bên thế chấp cung cấp thông tin sai lệch dẫn đến quyền sở hữu tài sản bị hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cũng phải được xác định rõ.

Theo chuyên gia, việc khơi thông dòng vốn cho các doanh nghiệp sở hữu TSTT không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế dựa trên tri thức. Tuy nhiên, để TSTT thật sự trở thành “vốn quý” của doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, tổ chức định giá, thị trường công nghệ và đặc biệt là một khung pháp lý đủ rõ để ngân hàng yên tâm đón nhận loại tài sản này. Chỉ khi đó, TSTT mới có thể bước ra khỏi “giá trị tiềm năng trên giấy” và tham gia một cách thực chất vào dòng chảy tín dụng của nền kinh tế.

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: