Thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ: Cơ hội khơi thông nguồn vốn cho tài sản trí tuệ

Việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước sẽ mở ra cơ hội cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư R&D.

Không chỉ bảo hộ, đã đến lúc thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ

Để thương mại hóa tài sản trí tuệ thực sự trở thành động lực phát triển, đồng chí Phạm Đại Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Trước hết, khung pháp lý phải bắt kịp xu thế toàn cầu, tạo hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định cho các chủ thể. Bên cạnh đó, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về định giá, tín dụng, thuế và các chính sách ưu đãi tài chính...

Việt Nam cũng phải cân nhắc lựa chọn mô hình sàn giao dịch tài sản trí tuệ, sandbox tài chính và quỹ đầu tư chuyên biệt phù hợp với điều kiện trong nước. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ đầu tư và các tổ chức trung gian cũng là yếu tố cần thiết.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh cho biết, Chính phủ đã giao Bộ KH&CN chủ trì, khẩn trương rà soát các quy định về sở hữu trí tuệ, kịp thời nghiên cứu, đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Một trong các chính sách được đề xuất trong sửa đổi lần này là chính sách: Hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ trưởng Hoàng Minh dẫn chứng xu thế quốc tế cho thấy các quốc gia phát triển đều dịch chuyển mạnh trọng tâm từ bảo hộ sang khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Tại EU, trong giai đoạn 2017 - 2019, các ngành thâm dụng sở hữu trí tuệ đã đóng góp 47% giá trị GDP, tại Mỹ chiếm 41% năm 2019 và Hàn Quốc là 43,1% năm 2015.

Bên cạnh đó, hệ thống tài chính – tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tài chính dựa trên tài sản trí tuệ lớn nhất thế giới, với hệ sinh thái tài chính sở hữu trí tuệ toàn diện, giúp khoảng 37 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn thông qua thế chấp bằng sáng chế và nhãn hiệu, với giá trị tài trợ đạt khoảng 854 tỷ nhân dân tệ năm 2023.

Hơn nữa, xu hướng đầu tư vào tài sản vô hình ngày càng vượt trội so với tài sản hữu hình. Theo Báo cáo điểm nhấn về đầu tư tài sản vô hình toàn cầu năm 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), giai đoạn 2008 - 2023, đầu tư vào tài sản vô hình tăng gần bốn lần so với đầu tư vào tài sản hữu hình; riêng tại Hoa Kỳ, giá trị đầu tư này đã tương đương khoảng 15% GDP trong năm 2024.

Tại Việt Nam, số lượng đơn sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt tăng trung bình 11,7% mỗi năm trong giai đoạn 2014–2024. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh tiềm năng sáng tạo ngày càng lớn của người Việt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động thương mại hóa còn rất hạn chế, lý do từ nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó khung pháp lý hiện hành, dù đã tạo nền tảng bảo hộ, nhưng chưa đủ mạnh để thúc đẩy ứng dụng và khai thác thương mại.

Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, quá trình rà soát cho thấy, nhiều quy định về xác lập, khai thác, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn, còn phân tán và thiếu tính đồng bộ với các luật khác.

Dự thảo sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ lần này hướng đến khắc phục những bất cập trên bằng cách mở rộng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản trí tuệ, thiết lập cơ chế minh bạch cho hoạt động góp vốn, chuyển nhượng, định giá và thế chấp, đồng thời khuyến khích hình thành và phát triển các tổ chức trung gian như sàn giao dịch, văn phòng chuyển giao công nghệ, tổ chức định giá tài sản trí tuệ.

Các điều khoản được đề xuất sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và phân tích các điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Các điều khoản được thiết kế không chỉ nhằm giải quyết bất cập trước mắt, mà còn hướng đến việc tạo dựng một khung pháp lý có khả năng thích ứng trong dài hạn, nhất là trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng.

Các chuyên gia đều cho rằng thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là khâu quyết định để chuyển hóa các kết quả sáng tạo thành giá trị kinh tế và lợi ích xã hội. Một hành lang pháp lý mạnh, đồng bộ sẽ giúp sáng chế của người Việt không chỉ được bảo hộ, mà quan trọng hơn, được khai thác hiệu quả, tạo ra giá trị kinh tế và động lực phát triển bền vững.

thuong-mai-hoa-tstt-0939.jpg

Mở khóa dòng vốn cho tài sản trí tuệ

Dù được đánh giá là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, tài sản trí tuệ vẫn chưa thể tham gia thị trường tín dụng bởi thiếu cơ chế định giá, xử lý và bảo đảm đủ rõ ràng cho ngân hàng. Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), chỉ riêng năm 2024, Cục đã cấp hơn 53.600 văn bằng, tiếp nhận gần 153.000 đơn đăng ký. Thực tế cho thấy, số lượng tài sản trí tuệ (TSTT) của doanh nghiệp, người dân dưới nhiều hình thức khác nhau ngày càng gia tăng. Thế nhưng, khả năng đưa TSTT vào ngân hàng làm tài sản bảo đảm vẫn rất hạn chế, tạo nên nghịch lý khi tài sản có giá trị lại không thể “mở khóa” dòng vốn.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Vũ Ngọc Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, nguyên nhân chủ yếu nằm ở bốn nhóm rủi ro lớn mà hệ thống tín dụng chưa thể vượt qua. Rủi ro đầu tiên là định giá, khi giá trị TSTT biến động mạnh theo vòng đời công nghệ và sự phản ứng của thị trường. Không có chuẩn mực định giá thống nhất hay dữ liệu đủ lớn để tham chiếu, ngân hàng rất khó xác định mức giá trị hợp lý. Ngay cả Chuẩn mực thẩm định giá tài sản vô hình theo Thông tư 37/2024/TT-BTC cũng chủ yếu dựa vào phương pháp so sánh, trong khi TSTT mang tính độc nhất nên khó tìm được đối tượng tương đồng.

Rào cản tiếp theo là tính thanh khoản thấp. Khác với bất động sản hay hàng hóa có thị trường giao dịch rõ ràng, TSTT thường gắn với hoạt động kinh doanh riêng biệt của doanh nghiệp, khiến việc bán lại khi xử lý nợ xấu vô cùng khó khăn. Nhiều TSTT lại ở dạng đồng sở hữu hoặc liên quan chuỗi giá trị phức tạp, càng làm việc định đoạt kéo dài và rủi ro tăng lên. Thêm vào đó, dù Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP cho phép sử dụng quyền SHTT làm tài sản bảo đảm, Luật SHTT hiện hành vẫn thiếu các quy định đặc thù về đăng ký, công bố và xử lý khi thế chấp, khiến cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm còn lúng túng và ngân hàng e ngại tranh chấp.

Một hạn chế sâu hơn là chính các ngân hàng hiện thiếu đội ngũ thẩm định chuyên sâu về tài sản vô hình. Việc phải thuê tổ chức định giá độc lập làm tăng chi phí và thời gian xử lý hồ sơ, trong khi biến động giá trị lại buộc ngân hàng phải liên tục kiểm tra, tái thẩm định. Việt Nam cũng chưa có sàn giao dịch TSTT ở quy mô quốc gia hay cơ sở dữ liệu định giá mở để ngân hàng tham chiếu. Trong bối cảnh đó, TSTT dù có giá trị lớn vẫn kém hấp dẫn hơn nhiều so với tài sản hữu hình truyền thống.

Đặt trong tổng thể khung pháp lý hiện hành, nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ (Dự thảo) dù mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng TSTT làm tài sản bảo đảm, nhưng vẫn thiếu cơ sở đủ chặt chẽ để áp dụng trong hoạt động tín dụng.

TS. Nguyễn Thái Cường, Phụ trách Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nhận định rằng điều kiện tiên quyết để TSTT thực sự tham gia thị trường tín dụng không chỉ nằm ở việc “được phép trên giấy”, mà phải được đặt trong một khung pháp lý rõ ràng, thống nhất và đủ khả thi để ngân hàng lượng hóa rủi ro.

Ông cho rằng, Dự thảo cần làm rõ tình trạng pháp lý của quyền sở hữu tài sản trước khi cho thế chấp; chỉ những quyền đã được xác lập rõ ràng, không vướng tranh chấp, không bị yêu cầu hủy bỏ hoặc đã hết hiệu lực mới nên được chấp nhận. Đồng thời, cần có cơ chế ghi nhận và công bố công khai việc thế chấp tại cơ quan sở hữu tài sản nhằm tạo hiệu lực đối kháng với người thứ ba, tránh phát sinh tranh chấp sau này.

Một yêu cầu khác mang tính then chốt là định giá. Giá trị TSTT không thể dựa trên mức doanh nghiệp tự đưa ra, mà phải tuân thủ chuẩn mực thẩm định tài sản vô hình và được thực hiện bởi tổ chức thẩm định độc lập. Ngân hàng cũng cần có quyền yêu cầu định giá lại khi thị trường, tình trạng pháp lý hay khả năng khai thác tài sản thay đổi.

Quan trọng hơn cả, khâu xử lý tài sản khi phát sinh nghĩa vụ nợ phải được luật hóa rõ ràng. Quyền sở hữu tài sản cần có khả năng chuyển nhượng, đấu giá hoặc để ngân hàng nhận chính tài sản đó thay thế nghĩa vụ, với trình tự đơn giản và minh bạch. Sự phối hợp giữa cơ quan sở hữu tài sản và tổ chức tín dụng trong việc thay đổi chủ sở hữu, xử lý các hợp đồng li-xăng hay đồng sở hữu cũng phải được quy định cụ thể để tránh xung đột. Trong trường hợp bên thế chấp cung cấp thông tin sai lệch dẫn đến quyền sở hữu tài sản bị hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cũng phải được xác định rõ.

Theo chuyên gia, việc khơi thông dòng vốn cho các doanh nghiệp sở hữu TSTT không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế dựa trên tri thức. Tuy nhiên, để TSTT thật sự trở thành “vốn quý” của doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, tổ chức định giá, thị trường công nghệ và đặc biệt là một khung pháp lý đủ rõ để ngân hàng yên tâm đón nhận loại tài sản này. Chỉ khi đó, TSTT mới có thể bước ra khỏi “giá trị tiềm năng trên giấy” và tham gia một cách thực chất vào dòng chảy tín dụng của nền kinh tế.

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: