Thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ: Cơ hội khơi thông nguồn vốn cho tài sản trí tuệ

(NB&CL) Sáng chế tăng nhanh nhưng tỷ lệ thương mại hóa còn khiêm tốn, khiến nhiều tài sản trí tuệ chưa được phát huy giá trị. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có khung pháp lý mạnh hơn, để sở hữu trí tuệ không chỉ được bảo hộ mà còn được khai thác và thương mại hóa, biến tri thức sáng tạo thành của cải quốc gia.

Việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước sẽ mở ra cơ hội cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư R&D.

Không chỉ bảo hộ, đã đến lúc thương mại hóa mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ

Để thương mại hóa tài sản trí tuệ thực sự trở thành động lực phát triển, đồng chí Phạm Đại Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Trước hết, khung pháp lý phải bắt kịp xu thế toàn cầu, tạo hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định cho các chủ thể. Bên cạnh đó, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về định giá, tín dụng, thuế và các chính sách ưu đãi tài chính...

Việt Nam cũng phải cân nhắc lựa chọn mô hình sàn giao dịch tài sản trí tuệ, sandbox tài chính và quỹ đầu tư chuyên biệt phù hợp với điều kiện trong nước. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ đầu tư và các tổ chức trung gian cũng là yếu tố cần thiết.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh cho biết, Chính phủ đã giao Bộ KH&CN chủ trì, khẩn trương rà soát các quy định về sở hữu trí tuệ, kịp thời nghiên cứu, đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Một trong các chính sách được đề xuất trong sửa đổi lần này là chính sách: Hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thứ trưởng Hoàng Minh dẫn chứng xu thế quốc tế cho thấy các quốc gia phát triển đều dịch chuyển mạnh trọng tâm từ bảo hộ sang khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Tại EU, trong giai đoạn 2017 - 2019, các ngành thâm dụng sở hữu trí tuệ đã đóng góp 47% giá trị GDP, tại Mỹ chiếm 41% năm 2019 và Hàn Quốc là 43,1% năm 2015.

Bên cạnh đó, hệ thống tài chính – tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tài chính dựa trên tài sản trí tuệ lớn nhất thế giới, với hệ sinh thái tài chính sở hữu trí tuệ toàn diện, giúp khoảng 37 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn thông qua thế chấp bằng sáng chế và nhãn hiệu, với giá trị tài trợ đạt khoảng 854 tỷ nhân dân tệ năm 2023.

Hơn nữa, xu hướng đầu tư vào tài sản vô hình ngày càng vượt trội so với tài sản hữu hình. Theo Báo cáo điểm nhấn về đầu tư tài sản vô hình toàn cầu năm 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), giai đoạn 2008 - 2023, đầu tư vào tài sản vô hình tăng gần bốn lần so với đầu tư vào tài sản hữu hình; riêng tại Hoa Kỳ, giá trị đầu tư này đã tương đương khoảng 15% GDP trong năm 2024.

Tại Việt Nam, số lượng đơn sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt tăng trung bình 11,7% mỗi năm trong giai đoạn 2014–2024. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh tiềm năng sáng tạo ngày càng lớn của người Việt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động thương mại hóa còn rất hạn chế, lý do từ nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó khung pháp lý hiện hành, dù đã tạo nền tảng bảo hộ, nhưng chưa đủ mạnh để thúc đẩy ứng dụng và khai thác thương mại.

Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, quá trình rà soát cho thấy, nhiều quy định về xác lập, khai thác, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn, còn phân tán và thiếu tính đồng bộ với các luật khác.

Dự thảo sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ lần này hướng đến khắc phục những bất cập trên bằng cách mở rộng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản trí tuệ, thiết lập cơ chế minh bạch cho hoạt động góp vốn, chuyển nhượng, định giá và thế chấp, đồng thời khuyến khích hình thành và phát triển các tổ chức trung gian như sàn giao dịch, văn phòng chuyển giao công nghệ, tổ chức định giá tài sản trí tuệ.

Các điều khoản được đề xuất sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và phân tích các điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Các điều khoản được thiết kế không chỉ nhằm giải quyết bất cập trước mắt, mà còn hướng đến việc tạo dựng một khung pháp lý có khả năng thích ứng trong dài hạn, nhất là trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng.

Các chuyên gia đều cho rằng thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là khâu quyết định để chuyển hóa các kết quả sáng tạo thành giá trị kinh tế và lợi ích xã hội. Một hành lang pháp lý mạnh, đồng bộ sẽ giúp sáng chế của người Việt không chỉ được bảo hộ, mà quan trọng hơn, được khai thác hiệu quả, tạo ra giá trị kinh tế và động lực phát triển bền vững.

thuong-mai-hoa-tstt-0939.jpg

Mở khóa dòng vốn cho tài sản trí tuệ

Dù được đánh giá là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, tài sản trí tuệ vẫn chưa thể tham gia thị trường tín dụng bởi thiếu cơ chế định giá, xử lý và bảo đảm đủ rõ ràng cho ngân hàng. Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), chỉ riêng năm 2024, Cục đã cấp hơn 53.600 văn bằng, tiếp nhận gần 153.000 đơn đăng ký. Thực tế cho thấy, số lượng tài sản trí tuệ (TSTT) của doanh nghiệp, người dân dưới nhiều hình thức khác nhau ngày càng gia tăng. Thế nhưng, khả năng đưa TSTT vào ngân hàng làm tài sản bảo đảm vẫn rất hạn chế, tạo nên nghịch lý khi tài sản có giá trị lại không thể “mở khóa” dòng vốn.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Vũ Ngọc Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, nguyên nhân chủ yếu nằm ở bốn nhóm rủi ro lớn mà hệ thống tín dụng chưa thể vượt qua. Rủi ro đầu tiên là định giá, khi giá trị TSTT biến động mạnh theo vòng đời công nghệ và sự phản ứng của thị trường. Không có chuẩn mực định giá thống nhất hay dữ liệu đủ lớn để tham chiếu, ngân hàng rất khó xác định mức giá trị hợp lý. Ngay cả Chuẩn mực thẩm định giá tài sản vô hình theo Thông tư 37/2024/TT-BTC cũng chủ yếu dựa vào phương pháp so sánh, trong khi TSTT mang tính độc nhất nên khó tìm được đối tượng tương đồng.

Rào cản tiếp theo là tính thanh khoản thấp. Khác với bất động sản hay hàng hóa có thị trường giao dịch rõ ràng, TSTT thường gắn với hoạt động kinh doanh riêng biệt của doanh nghiệp, khiến việc bán lại khi xử lý nợ xấu vô cùng khó khăn. Nhiều TSTT lại ở dạng đồng sở hữu hoặc liên quan chuỗi giá trị phức tạp, càng làm việc định đoạt kéo dài và rủi ro tăng lên. Thêm vào đó, dù Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP cho phép sử dụng quyền SHTT làm tài sản bảo đảm, Luật SHTT hiện hành vẫn thiếu các quy định đặc thù về đăng ký, công bố và xử lý khi thế chấp, khiến cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm còn lúng túng và ngân hàng e ngại tranh chấp.

Một hạn chế sâu hơn là chính các ngân hàng hiện thiếu đội ngũ thẩm định chuyên sâu về tài sản vô hình. Việc phải thuê tổ chức định giá độc lập làm tăng chi phí và thời gian xử lý hồ sơ, trong khi biến động giá trị lại buộc ngân hàng phải liên tục kiểm tra, tái thẩm định. Việt Nam cũng chưa có sàn giao dịch TSTT ở quy mô quốc gia hay cơ sở dữ liệu định giá mở để ngân hàng tham chiếu. Trong bối cảnh đó, TSTT dù có giá trị lớn vẫn kém hấp dẫn hơn nhiều so với tài sản hữu hình truyền thống.

Đặt trong tổng thể khung pháp lý hiện hành, nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ (Dự thảo) dù mở ra hướng đi mới cho việc sử dụng TSTT làm tài sản bảo đảm, nhưng vẫn thiếu cơ sở đủ chặt chẽ để áp dụng trong hoạt động tín dụng.

TS. Nguyễn Thái Cường, Phụ trách Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh nhận định rằng điều kiện tiên quyết để TSTT thực sự tham gia thị trường tín dụng không chỉ nằm ở việc “được phép trên giấy”, mà phải được đặt trong một khung pháp lý rõ ràng, thống nhất và đủ khả thi để ngân hàng lượng hóa rủi ro.

Ông cho rằng, Dự thảo cần làm rõ tình trạng pháp lý của quyền sở hữu tài sản trước khi cho thế chấp; chỉ những quyền đã được xác lập rõ ràng, không vướng tranh chấp, không bị yêu cầu hủy bỏ hoặc đã hết hiệu lực mới nên được chấp nhận. Đồng thời, cần có cơ chế ghi nhận và công bố công khai việc thế chấp tại cơ quan sở hữu tài sản nhằm tạo hiệu lực đối kháng với người thứ ba, tránh phát sinh tranh chấp sau này.

Một yêu cầu khác mang tính then chốt là định giá. Giá trị TSTT không thể dựa trên mức doanh nghiệp tự đưa ra, mà phải tuân thủ chuẩn mực thẩm định tài sản vô hình và được thực hiện bởi tổ chức thẩm định độc lập. Ngân hàng cũng cần có quyền yêu cầu định giá lại khi thị trường, tình trạng pháp lý hay khả năng khai thác tài sản thay đổi.

Quan trọng hơn cả, khâu xử lý tài sản khi phát sinh nghĩa vụ nợ phải được luật hóa rõ ràng. Quyền sở hữu tài sản cần có khả năng chuyển nhượng, đấu giá hoặc để ngân hàng nhận chính tài sản đó thay thế nghĩa vụ, với trình tự đơn giản và minh bạch. Sự phối hợp giữa cơ quan sở hữu tài sản và tổ chức tín dụng trong việc thay đổi chủ sở hữu, xử lý các hợp đồng li-xăng hay đồng sở hữu cũng phải được quy định cụ thể để tránh xung đột. Trong trường hợp bên thế chấp cung cấp thông tin sai lệch dẫn đến quyền sở hữu tài sản bị hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cũng phải được xác định rõ.

Theo chuyên gia, việc khơi thông dòng vốn cho các doanh nghiệp sở hữu TSTT không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế dựa trên tri thức. Tuy nhiên, để TSTT thật sự trở thành “vốn quý” của doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, tổ chức định giá, thị trường công nghệ và đặc biệt là một khung pháp lý đủ rõ để ngân hàng yên tâm đón nhận loại tài sản này. Chỉ khi đó, TSTT mới có thể bước ra khỏi “giá trị tiềm năng trên giấy” và tham gia một cách thực chất vào dòng chảy tín dụng của nền kinh tế.

Xem thêm

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

Nhìn lại một năm cải cách bộ máy

(CLO) Một năm trước, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai trên phạm vi cả nước, cùng với quyết tâm tinh gọn tổ chức bộ máy là hàng loạt băn khoăn về những tác động trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc nhiều cán bộ, công chức, viên chức xin nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của dư luận. Có người coi đây là kết quả tất yếu của quá trình sàng lọc đội ngũ, cũng có người lo ngại bộ máy sẽ thiếu hụt những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm đúng vào thời điểm chính quyền cơ sở được giao nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn.

Báo chí Việt Nam - Người đến sau có trách nhiệm!

Báo chí Việt Nam - Người đến sau có trách nhiệm!

(CLO) Vòng xoáy công nghệ có lẽ chẳng bao giờ có điểm dừng. Báo chí bây giờ và trong tương lai vẫn sẽ từng ngày đối mặt với áp lực buộc mình đổi mới. Nhưng dù có ở nền tảng công nghệ nào, dù kỹ thuật làm báo có phát triển đến đâu, thì có những giá trị cốt lõi của báo chí cũng không thể mất và không được phép mất. Như một chiếc la bàn, Báo chí cách mạng có thể định hướng dư luận, góp phần gìn giữ sự ổn định xã hội và vun đắp niềm tin vào sự thật. Mạng xã hội có thể là “mạch máu” kết nối thông tin, nhưng Báo chí cách mạng chính là “trái tim” giữ nhịp đập lý trí và trách nhiệm trong đời sống truyền thông hiện đại, để luôn là một người đến sau có trách nhiệm!

Giữ chủ quyền trên không gian mạng: Từ tư duy đến hành động

Giữ chủ quyền trên không gian mạng: Từ tư duy đến hành động

(NB&CL) Từ cảnh báo về nguy cơ mất an toàn dữ liệu đến yêu cầu xây dựng “thế trận an ninh mạng chủ động, toàn diện”, Chỉ thị số 57-CT/TW đã đặt ra một định hướng chiến lược rõ ràng cho bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số. Nhưng để biến định hướng ấy thành năng lực phòng thủ thực chất vẫn là bài toán lớn, đòi hỏi sự đồng bộ về công nghệ, nhân lực, thể chế pháp lý và khả năng tự chủ dữ liệu trong bối cảnh các nguy cơ an ninh mạng ngày càng phức tạp và khó lường.

Cần những “lá chắn phòng thủ” mới

Cần những “lá chắn phòng thủ” mới

(NB&CL) Một đường điện bị tê liệt có thể làm cả thành phố tối đèn. Một tuyến giao thông đứt gãy có thể khiến nền kinh tế chao đảo. Nhưng trong thời đại số, chỉ một cuộc tấn công mạng vào trung tâm dữ liệu, hệ thống ngân hàng hay nền tảng điều hành quốc gia cũng có thể tạo ra những xáo trộn không kém một cuộc khủng hoảng ngoài đời thực. Không gian mạng giờ đây đã trở thành phần lãnh thổ đặc biệt, gắn trực tiếp với chủ quyền quốc gia, năng lực quản trị và niềm tin xã hội.

Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam: Cơ hội định giá lại nông sản Việt Nam

Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam: Cơ hội định giá lại nông sản Việt Nam

(NB&CL) Trong nhiều năm qua, Việt Nam đứng trong nhóm xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới về sản lượng, nhưng giá trị thu về vẫn chưa tương xứng. Phần lớn các mặt hàng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, gạo… vẫn phụ thuộc vào giá niêm yết trên sàn quốc tế, khiến doanh nghiệp và nông dân trong nước luôn ở thế bị động. Chuyên gia nhận định: Việt Nam dẫn đầu thế giới nhiều mặt hàng nông sản nhưng thiếu sàn giao dịch thực thụ, gây lãng phí nguồn lực và đánh mất quyền định đoạt giá bán.

Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Từ đối thoại khu vực đến dấu ấn một Việt Nam chủ động kiến tạo

Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Từ đối thoại khu vực đến dấu ấn một Việt Nam chủ động kiến tạo

(NB&CL) Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) 2026 được tổ chức tại Hà Nội (từ ngày 9-10/6/2026) vào đúng thời điểm khu vực đang đứng trước những yêu cầu mới về tự cường, đổi mới và thích ứng với các biến động toàn cầu. Trong dòng chảy đó, AFF không chỉ là một sự kiện đối ngoại quan trọng của ASEAN mà còn cho thấy vai trò ngày càng chủ động của Việt Nam trong việc khởi xướng, duy trì và làm sâu sắc thêm các không gian đối thoại khu vực.

Việc tử tế - Bông hoa đẹp của thi đua yêu nước

Việc tử tế - Bông hoa đẹp của thi đua yêu nước

(CLO) Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp mặt 100 điển hình tiên tiến trong Chương trình “Việc tử tế” của Đài Truyền hình Việt Nam. Đây không chỉ là hoạt động tôn vinh những con người bình dị mà cao quý, mà còn là dịp để xã hội nhìn lại, trân trọng và lan tỏa những giá trị nhân văn tốt đẹp đang hiện hữu trong đời sống hằng ngày.

Tương lai đất nước bắt đầu từ người lao động hôm nay

Tương lai đất nước bắt đầu từ người lao động hôm nay

(CLO) Trong nhiều thập niên qua, người lao động Việt Nam từng đối mặt với không ít biến động của nền kinh tế. Nhưng có lẽ chưa bao giờ câu chuyện tương lai nghề nghiệp lại được đặt ra rõ ràng như hôm nay, khi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số đang làm thay đổi cách con người làm việc và tạo ra giá trị. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ một nhiệm kỳ đại hội.

 Hà Nội thu phí vào nội đô từ năm 2028: Cần lộ trình dài hơi và các giải pháp hỗ trợ đi kèm

Hà Nội thu phí vào nội đô từ năm 2028: Cần lộ trình dài hơi và các giải pháp hỗ trợ đi kèm

(NB&CL) Hà Nội một lần nữa đưa kế hoạch thu phí phương tiện giao thông vào nội đô với lộ trình bắt đầu từ Vành đai 1 vào năm 2028 với kỳ vọng “công cụ kinh tế” sẽ giúp điều tiết giao thông và thúc đẩy người dân chuyển sang phương tiện công cộng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, việc nghiên cứu thu phí phương tiện vào nội đô cần được đánh giá toàn diện cả ở góc độ giao thông, kinh tế lẫn tác động xã hội.

Một năm triển khai chính quyền 3 cấp: Từ “sắp xếp xong” đến “vận hành tốt”

Một năm triển khai chính quyền 3 cấp: Từ “sắp xếp xong” đến “vận hành tốt”

(NB&CL) Một năm trước, mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương chính thức đi vào vận hành sau cuộc sắp xếp quy mô lớn nhất trong nhiều thập niên. Hàng loạt đơn vị hành chính được tổ chức lại, nhiều cơ quan được hợp nhất, hàng nghìn đầu mối được tinh gọn, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai trên phạm vi cả nước.

Cỡ chữ bài viết: