“Về quê, biết làm gì để sống?”

Câu hỏi ấy, thực ra không phải đến bây giờ mới bật ra trong họ, nhưng tác động khủng khiếp của dịch COVID-19 đang khiến câu hỏi ấy trở nên nhức nhối, cấp bách hơn bao giờ hết.

1. “Hơn 1.000 người dân từ vùng dịch phía Nam về quê, có trẻ em vài tháng tuổi” - đó là tiêu đề của phóng sự ảnh được phóng viên Quang Hùng của Báo Nhà báo & Công luận thực hiện đêm 5/10 vừa qua tại chốt kiểm soát số 1 cửa ngõ ra vào Thủ đô. Phóng sự ảnh đặc tả đoàn xe hàng trăm người dân các tỉnh phía Bắc đang sinh sống, làm việc tại TP. Hồ Chí Minh và hai tỉnh Bình Dương, Đồng Nai dịch chuyển về quê.

Theo chỉ huy chốt kiểm dịch số 1 (Pháp Vân - Cầu Giẽ), trong ngày 5/10, khoảng hơn 1.000 người chạy xe máy chở theo phụ nữ, trẻ em và cả vật dụng sinh hoạt chạy cả ngàn km dọc theo Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh ngang qua Hà Nội để về các tỉnh miền núi phía Bắc. Đa phần trong số họ là bà con dân tộc thiểu số nghèo ở nhiều tỉnh như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu vào Nam mưu sinh. Dễ nhận nhất cũng chẳng thể giấu được nơi họ là vẻ mệt mỏi, lo lắng đến thất thần. Thật quan ngại, trong đoàn người, có rất nhiều trẻ em từ vài tháng đến 5 tuổi.

ve que biet lam gi de song hinh 1

Nhưng đó chỉ là một trong số rất nhiều đoàn người đang tỏa về quê trên rất nhiều nẻo đường tại nhiều địa phương những ngày này. Và không chỉ trong những ngày này, từ khi làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4 ập tới đến nay, đây không phải là những đợt di dân đầu tiên, và chắc chắn sẽ chưa là đợt di dân cuối cùng.

“Bão dịch” COVID-19 bất ngờ ập đến, cảnh thất nghiệp, cơn túng quẫn kèm nỗi lo mắc bệnh nơi đất khách quê người khiến đa phần người lao động xa quê không còn cách nào khác là chọn quê hương làm nẻo quay về, dù họ biết mười mươi rằng trên quãng đường xa ấy là muôn nỗi hiểm nguy tới sinh mạng chực chờ, dù họ biết phía trước họ là những ngày dài phải chịu cảnh cách ly, nguy cơ lây nhiễm chéo tại các khu cách ly là khá cao, chi phí bỏ ra trong hoàn cảnh ngặt nghèo của họ là không hề nhỏ, rồi xa hơn nữa, là nỗi lo việc làm, tìm đâu ra việc làm phù hợp trong tình hình dịch bệnh này, không biết sẽ làm gì khi “rời trường học đã đi làm công nhân”… Nhưng họ vẫn cứ phải trở về, vì đơn giản, theo họ đó là sự lựa chọn tốt nhất.

“Giờ về quê chắc cũng thất nghiệp, nhưng ở gần anh em họ hàng chắc cũng cầm cự được” - đó có lẽ là lý giải của phần đa những con người đã chọn lối trở về. Với những chuyên gia dịch tễ, đó là những sự trở về đáng quan ngại về yếu tố phòng dịch, nhưng trong nhìn nhận của rất nhiều chuyên gia khác, đó là nhu cầu tất yếu và hoàn toàn có thể hiểu được nếu ta đặt ta vào tình thế ngặt nghèo như họ.

ve que biet lam gi de song hinh 2

2. Với nhiều địa phương, trong vô vàn công việc của những ngày chống dịch, làm thế nào để đón tiếp an toàn, đảm bảo rồi tạo sinh kế cho những công dân của mình vừa trở về từ vùng dịch cũng là một đầu việc không đơn giản, nếu không muốn nói là đầy áp lực và chưa từng có tiền lệ.

Cũng bởi chưa từng có tiền lệ, nên một số địa phương, có lẽ là là tùy sức, tùy khả năng, điều kiện riêng của mình đã, đang thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ khác nhau. Như mỗi người dân hồi hương từ miền Đông Nam Bộ về Cần Thơ, trong thời gian cách ly tại nhà sẽ được chính quyền hỗ trợ ngay 15kg gạo và 500 nghìn đồng, những người thuộc diện cách ly tập trung, điều trị COVID-19 sẽ được hỗ trợ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày, chi phí điều trị cũng được hỗ trợ theo quy định...

Hay như chia sẻ của Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, An Giang đã chỉ đạo thành lập Ban Tổ chức tiếp nhận công dân An Giang từ các tỉnh, thành phố tự phát hồi hương. Bà con sẽ được đưa về cách ly tại nhà, thực hiện tiêm bổ sung khi có vắc-xin; ưu tiên tiêm mũi 2 cho những ai đã tiêm mũi 1 và tuyệt đối không để người dân thiếu đói, UBMTTQ, các hội, đoàn thể các cấp nấu cơm, cháo, mì gói, bánh mì, cung cấp nước uống, thuốc men…

ve que biet lam gi de song hinh 3

Những sự chia sẻ, hỗ trợ đó là nghĩa tình, là đáng quý nhưng thực sự mới chỉ là những giải pháp bước đầu, mang tính tình thế cấp bách, nguồn lực của địa phương cũng còn rất hạn chế, thế nên, nỗi trăn trở của rất nhiều địa phương hiện nay là làm thế nào để có thể tạo sinh kế ổn định, lâu dài cho người dân hồi hương trở về.

Nhìn vào dòng người trở về, dễ thấy đa phần trong số họ là người lao động có nguồn gốc từ nông thôn, miền núi, hầu hết chưa qua đào tạo nghề mà chỉ làm việc dựa trên kinh nghiệm ở một nghề, một lĩnh vực nào đó. Như thống kê của Sở LĐ-TB&XH Thanh Hóa, tính từ ngày 27/4 đến trung tuần tháng 9/2021, đã có trên 166.000 công dân Thanh Hóa từ vùng dịch về quê.

Người trở về từ các vùng dịch chủ yếu là lao động tự do, không có giao kết hợp đồng lao động, không có bằng cấp, chứng chỉ (chiếm 65%). “Để tạo việc làm cho người dân về từ vùng dịch, chúng tôi có 2 phương án: Liên hệ với các nhà máy, xí nghiệp về nhu cầu tuyển dụng lao động; tìm hiểu các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn để liên hệ cho người lao động đến làm việc” - động thái đó của lãnh đạo xã Yên Thọ, Như Thanh, Thanh Hóa có lẽ cũng là động thái bước đầu của nhiều địa phương trong việc giải bài toán không hề giản đơn này.

3.  Nhưng cũng chính sự không giản đơn từ bài toán sinh kế cho người hồi hương trở về từ vùng dịch đã làm lộ sáng một vấn đề thực chất đã là một tồn tại cố hữu từ rất lâu: đào tạo nguồn lực lao động, đặc biệt là nguồn lao động nhân lực chất lượng cao.

Theo một số liệu được công bố cách đây không lâu, tỷ lệ sử dụng lao động qua đào tạo tại Việt Nam còn thấp: chỉ 21,85%. Trong khi thị trường vẫn thiếu lao động có trình độ, kỹ năng nghề. Rất nhiều chủ doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài cho rằng, những kỹ năng mà cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Không ít DN than phiền họ phải tự đào tạo hoặc đào tạo lại lao động theo hình thức vừa học, vừa làm.

Theo hé lộ của một lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH cách đây hơn một năm, số lượng lao động đã qua đào tạo của Việt Nam chỉ bằng 1/3 Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, trong khi nhiều nước, tỷ lệ đào tạo của lao động đã đạt trên 50%. Con số này không tương xứng với con số về dân số đứng thứ 3 ASEAN của Việt Nam, chỉ sau Indonesia và Philipines.

ve que biet lam gi de song hinh 4

Nơi đào tạo lao động là một mặt, nơi sử dụng lao động cũng là mặt cốt yếu khác của vấn đề. Đại dịch COVID-19 cũng đã làm lộ sáng một điểm hạn chế khác tại nhiều địa phương: chưa phát triển đủ mạnh ngành công nghiệp, chưa có “vệt khu công nghiệp” để có thể tạo dựng việc làm cho người lao động. Một thực tế không khó để nhận ra là các khu công nghiệp, các đô thị thông minh… hầu hết chỉ đang tập trung tại một số thành phố lớn hoặc tại một số khu vực nhất định của từng địa phương.

Đơn cử: Để những người lao động miền Tây không phải đổ xô lên TP.HCM tìm việc làm, thì nên chăng phải giải bài toán mở rộng các KCN, tăng quy mô sản xuất công nghiệp của khu vực miền Tây? Làm thế nào để trong tương lai sẽ có thêm nhiều khu công nghiệp được mở để người dân ở các vùng quê có thể bảo đảm sinh kế ngay trên mảnh đất quê hương mình? Đây là thời điểm những câu hỏi ấy cần phải có ngay câu trả lời thấu đáo. Nếu không, “Về quê, biết làm gì để sống?” sẽ còn là câu hỏi nhức nhối, lặp đi lặp lại trên môi những người lao động?

Thư Hà

Xem thêm

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Cỡ chữ bài viết: