Bài 3: Quyết tâm chính trị, kỷ luật thực thi, đồng thuận xã hội-Câu trả lời đanh thép trước mọi luận điệu gây nhiễu

Vận hội không tự đến – chỉ mở ra cho người biết chuẩn bị

Lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy, vận hội chưa bao giờ là món quà ban phát, mà là kết quả của một quá trình tích lũy nội lực, lựa chọn đúng hướng đi và kiên trì cải cách. Với Việt Nam, vận hội càng không đến từ sự ngẫu nhiên, mà được hình thành từ chính những nỗ lực bền bỉ trong suốt nhiều năm qua – từ giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm độc lập tự chủ, đến từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc gia.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tại hội nghị Trung ương 14, sáng 5/11/. Ảnh: Nhật Bắc
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tại hội nghị Trung ương 14, sáng 5/11. Ảnh: Nhật Bắc

Bước vào giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội XIV, đất nước đứng trước một thời điểm mang tính bản lề. Thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột cục bộ và khủng hoảng kinh tế – năng lượng – an ninh lương thực vẫn hiện hữu. Trong bức tranh ấy, việc Việt Nam giữ được môi trường hòa bình, ổn định, duy trì đà tăng trưởng và mở rộng quan hệ đối ngoại thực chất đã tự thân trở thành một lợi thế chiến lược.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận thẳng thắn, vận hội chỉ trở thành hiện thực nếu nội lực được chuẩn bị đầy đủ. Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh rằng, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ, cơ hội chiến lược, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam. Thời cơ không tự đến, mà phải được tạo ra bằng bản lĩnh, trí tuệ và sự chuẩn bị chủ động từ sớm, từ xa. Thông điệp ấy không chỉ mang tính định hướng, mà còn là lời cảnh báo rõ ràng: nếu thiếu chuẩn bị, vận hội sẽ trôi qua như một cơ hội bị bỏ lỡ. “Nếu để lỡ thời cơ là có lỗi với đất nước và Nhân dân”.

Cùng chung mạch tư duy ấy, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng khẳng định trong nhiều diễn đàn điều hành rằng, thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nhưng đồng thời cũng là động lực của động lực; nếu tháo gỡ được thể chế, chúng ta sẽ giải phóng được nguồn lực to lớn cho phát triển. Đây chính là lời giải thích vì sao cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực thực thi đang được Đảng và Nhà nước đặt ở vị trí trung tâm trong giai đoạn hiện nay.

Một nền kinh tế muốn bứt phá không thể chỉ dựa vào dòng vốn bên ngoài, mà phải dựa vào thể chế thông thoáng, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết cấu hạ tầng đồng bộ và một bộ máy đủ năng lực hành động. Đó cũng là lý do vì sao các nghị quyết lớn thời gian qua đều tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và người dân.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, Việt Nam chưa bao giờ chờ “thời cơ hoàn hảo” mới hành động. Từ Đổi mới năm 1986 đến những quyết sách lớn trong hội nhập và ứng phó với khủng hoảng toàn cầu, đất nước luôn lựa chọn hành động trong điều kiện khó khăn, vừa làm vừa điều chỉnh, nhưng không dao động mục tiêu. Như nhiều lãnh đạo đã nhấn mạnh, ổn định không phải để đứng yên, mà là nền tảng để đổi mới và phát triển bền vững.

Đáng chú ý, vận hội hiện nay không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng, mà còn ở khả năng tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, bao trùm và lấy con người làm trung tâm. Đây là cơ hội để nâng cao chất lượng sống, phát triển khoa học – công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh và củng cố an sinh xã hội. Nhưng cơ hội ấy chỉ thành hiện thực nếu được chuẩn bị bằng quyết tâm chính trị, kỷ luật thực thi và sự đồng thuận xã hội.

Những luận điệu cho rằng Việt Nam “hết dư địa phát triển” hoặc “không thể bứt phá” thực chất là cách nhìn phiến diện, xem nhẹ vai trò của nội lực và phủ nhận những cải cách đang diễn ra từng ngày. Trong khi đó, quan điểm nhất quán của Đảng và Chính phủ là rất rõ: khó khăn không phải lý do để lùi bước, mà là phép thử bản lĩnh cầm quyền và năng lực tổ chức thực tiễn.

Vận hội, vì thế, không nằm ở lời tiên đoán, mà nằm ở năng lực chuẩn bị. Và chính giai đoạn trước thềm Đại hội XIV là lúc cần nhất sự tỉnh táo, chủ động và trách nhiệm – để khi thời cơ đến, đất nước không đứng ngoài, không chậm nhịp, mà sẵn sàng bứt phá bằng chính nội lực đã được chuẩn bị kỹ lưỡng.

Thể chế thông thoáng – kỷ cương nghiêm minh: Chìa khóa của bứt phá

hoi-nghi.jpg
Hội nghị Trung ương 12 (khóa XIII). Ảnh: TTXVN

Trong mọi cuộc thảo luận nghiêm túc về vận hội phát triển, thể chế luôn là điểm xuất phát. Nhưng cần khẳng định rõ: thể chế thông thoáng không đồng nghĩa với buông lỏng kỷ cương, cũng không phải là sự thỏa hiệp với lợi ích cục bộ. Ngược lại, một thể chế thực sự tạo động lực phát triển phải đồng thời bảo đảm hai yếu tố tưởng chừng đối nghịch nhưng lại bổ trợ cho nhau: thông thoáng để khơi thông nguồn lực và nghiêm minh để giữ vững kỷ cương.

Thực tiễn chứng minh, những “điểm nghẽn” lớn nhất của nền kinh tế không nằm ở thiếu vốn hay thiếu ý tưởng, mà nằm ở các rào cản thể chế chồng chéo, thiếu nhất quán, tâm lý sợ trách nhiệm trong thực thi. Chính vì vậy, khi Thủ tướng Chính phủ nhiều lần nhấn mạnh “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đó không phải là sự né tránh, mà là cách nhìn thẳng vào sự thật để tháo gỡ.

Tuy nhiên, cũng cần phản bác thẳng thắn luận điệu cho rằng muốn phát triển thì phải “nới lỏng quản lý”, “giảm kỷ luật”, thậm chí dung túng cho sai phạm. Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia đã cho thấy, mọi sự buông lỏng kỷ cương đều phải trả giá, bằng thất thoát nguồn lực, bất công xã hội và khủng hoảng niềm tin. Việt Nam không chọn con đường đó.

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta kiên trì theo đuổi chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa cải cách và kỷ cương, giữa khuyến khích sáng tạo và xử lý nghiêm vi phạm. Một môi trường đầu tư chỉ thực sự hấp dẫn khi luật pháp rõ ràng, ổn định, được thực thi nghiêm minh và không bị chi phối bởi “xin – cho” hay lợi ích nhóm.

Từ góc độ quản trị phát triển, các tổ chức quốc tế cũng khẳng định chính sách kỷ cương và quản trị tốt (good governance), trong đó có pháp quyền và kiểm soát tham nhũng, là nền tảng để tạo ra môi trường kinh tế minh bạch, hiệu quả và bền vững. Ví dụ như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) coi việc đảm bảo pháp quyền, nâng cao hiệu lực quản lý công và kiểm soát tham nhũng là những yếu tố thiết yếu để một nền kinh tế có thể “thịnh vượng” chứ không chỉ phát triển tức thời.

Ở góc độ này, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải là lực cản của phát triển, mà chính là điều kiện để thể chế vận hành lành mạnh. Khi kỷ cương được siết chặt, khi cán bộ “không thể, không dám, không muốn” tham nhũng, nguồn lực xã hội mới được phân bổ công bằng, hiệu quả và đúng mục tiêu phát triển. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần đó khi khẳng định: xây dựng thể chế trong sạch, kỷ luật nghiêm minh là để tạo môi trường an toàn cho những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Một thể chế thông thoáng nhưng thiếu kỷ cương sẽ dẫn đến hỗn loạn; ngược lại, kỷ cương nghiêm minh nhưng thiếu cải cách sẽ dẫn đến trì trệ. Bứt phá chỉ đến khi hai yếu tố này song hành, tạo nên niềm tin cho doanh nghiệp, cho người dân và cho cả xã hội. Đó cũng chính là lý do vì sao cải cách thể chế hiện nay không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà là nhiệm vụ chính trị mang tầm chiến lược.

Vận hội phát triển của Việt Nam vì thế không nằm ở việc lựa chọn “nới” hay “siết”, mà ở năng lực kiến tạo một thể chế vừa mở đường cho phát triển, vừa giữ vững kỷ cương, phép nước. Khi thể chế thực sự thông thoáng và kỷ cương thực sự nghiêm minh, niềm tin xã hội sẽ được củng cố, và đó chính là nền móng vững chắc nhất cho mọi bứt phá trong giai đoạn tới.

Phản bác luận điệu “cải cách sẽ gây bất ổn”

Trên không gian mạng, một luận điệu quen thuộc khác thường được tung ra mỗi khi đất nước đẩy mạnh cải cách là: “cải cách quá nhanh sẽ gây bất ổn”, “thay đổi sẽ làm xáo trộn xã hội”. Nghe qua có vẻ thận trọng, nhưng thực chất đây là cách lập luận đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất cải cách có kiểm soát với xáo trộn vô nguyên tắc, từ đó gieo tâm lý sợ hãi thay đổi.

Thực tế lịch sử cho thấy, không cải cách mới là nguồn gốc sâu xa của bất ổn. Khi thể chế trì trệ, bộ máy cồng kềnh, chính sách chậm thích ứng với thực tiễn, mâu thuẫn xã hội sẽ tích tụ âm ỉ và bùng phát dưới nhiều hình thức khác nhau. Bất ổn không đến từ cải cách, mà đến từ việc né tránh cải cách.

Công cuộc Đổi mới năm 1986 là minh chứng rõ nét. Nếu khi đó vì lo ngại “bất ổn” mà chần chừ, không dám thay đổi tư duy kinh tế, thì Việt Nam khó có thể thoát khỏi khủng hoảng kéo dài, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Chính cải cách đúng thời điểm đã đưa đất nước ra khỏi bế tắc, tạo nền tảng cho ổn định lâu dài.

Trong giai đoạn hiện nay, các cải cách về thể chế, tổ chức bộ máy, phân cấp – phân quyền, sắp xếp đơn vị hành chính hay tinh giản biên chế cũng không nằm ngoài logic đó. Có thể phát sinh những xáo trộn cục bộ trong quá trình thực hiện, nhưng đó là chi phí cần thiết để đổi lấy hiệu quả dài hạn, chứ không phải là bất ổn mang tính hệ thống. Đánh đồng hai khái niệm này là một sự ngụy biện.

Điều đáng nói là các luận điệu xuyên tạc thường cố tình thổi phồng những khó khăn ban đầu, cắt rời chúng khỏi bức tranh tổng thể và lộ trình cải cách đã được tính toán. Một vài vướng mắc trong thực thi được mô tả như “khủng hoảng”, “rối loạn”, trong khi những lợi ích dài hạn về hiệu lực quản lý, tiết kiệm ngân sách, nâng cao chất lượng phục vụ người dân lại bị lờ đi. Cần nhấn mạnh rằng, cải cách mà Đảng và Nhà nước đang triển khai không phải là sự thay đổi nóng vội, mà là cải cách có nguyên tắc, có bước đi, có đánh giá tác động và có cơ chế điều chỉnh. Chính sự chủ động nhận diện khó khăn, kịp thời sửa đổi bất cập mới là biểu hiện của một nền quản trị hiện đại và có trách nhiệm.

Thực tiễn đời sống phản ánh, cải cách không gây bất ổn, mà đang từng bước làm xã hội vận hành trật tự và thuận lợi hơn. Trong lĩnh vực giải quyết thủ tục hành chính, việc đẩy mạnh số hóa, liên thông dữ liệu, cắt giảm khâu trung gian đã giúp người dân và doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí. Nhiều thủ tục trước đây phải đi lại nhiều lần, chờ đợi kéo dài, nay được giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến, minh bạch tiến độ, hạn chế tiếp xúc không cần thiết. Những thay đổi này có thể khiến một bộ phận quen với lối làm việc cũ phải điều chỉnh, nhưng rõ ràng lợi ích cuối cùng thuộc về người dân.

Trong giáo dục, các cải cách về chương trình, phương pháp giảng dạy hay tuyển sinh từng vấp phải không ít băn khoăn. Song nhìn từ thực tiễn, việc giảm áp lực thi cử, tăng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo, chú trọng kỹ năng và năng lực người học đang giúp hệ thống giáo dục thích ứng tốt hơn với yêu cầu của thị trường lao động. Những xáo trộn ban đầu là có thật, nhưng nếu không cải cách, chính giáo dục mới rơi vào nguy cơ tụt hậu, tạo ra bất ổn dài hạn về nguồn nhân lực.

Ở lĩnh vực y tế, các nỗ lực cải cách thủ tục khám, chữa bệnh, thanh toán bảo hiểm y tế, đầu tư cho y tế cơ sở và chuyển đổi số hồ sơ bệnh án đã mang lại thay đổi rõ rệt. Người dân được tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, giảm tình trạng quá tải, minh bạch chi phí. Việc siết chặt kỷ cương trong quản lý thuốc, trang thiết bị y tế từng gây ra những khó khăn nhất thời, nhưng về lâu dài, đó là cách để bảo vệ quyền lợi người bệnh, ngăn chặn tiêu cực và lãng phí ngân sách.

Những ví dụ đó cho thấy, cải cách không phải là cú sốc gây bất ổn, mà là quá trình điều chỉnh có kiểm soát, hướng tới hiệu quả và công bằng. Bất ổn chỉ xuất hiện khi cải cách bị trì hoãn, khi những bất cập không được xử lý kịp thời và niềm tin của người dân bị bào mòn bởi sự trì trệ.

Vì vậy, luận điệu cho rằng “cải cách sẽ gây bất ổn” thực chất là cách níu kéo hiện trạng, bảo vệ những lợi ích đã lỗi thời và cản trở động lực phát triển. Đó là cách nhìn ngắn hạn, bỏ qua những thay đổi tích cực đang diễn ra từng ngày trong đời sống, nơi người dân không cần khẩu hiệu để cảm nhận cải cách, mà đánh giá bằng sự thuận tiện, công bằng và minh bạch mà họ trực tiếp hưởng thụ.

Xét một cách công bằng, chính những cải cách kiên trì, có lộ trình và đặt lợi ích lâu dài của Nhân dân làm trung tâm mới là yếu tố bảo đảm ổn định thực chất – thứ ổn định không mong manh, không hình thức, mà đủ sức chịu đựng trước mọi biến động từ bên ngoài.

Khi đồng thuận xã hội trở thành lực đẩy phát triển

article.jpeg
Khối đại diện 54 dân tộc Việt Nam diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Trong mọi giai đoạn bản lề của đất nước, đồng thuận xã hội luôn là yếu tố mang tính quyết định. Không phải ngẫu nhiên mà mỗi khi Việt Nam đứng trước những lựa chọn lớn, từ Đổi mới đến hội nhập sâu rộng, từ cải cách thể chế đến sắp xếp lại bộ máy, yêu cầu hàng đầu luôn là củng cố niềm tin và tạo sự đồng lòng trong xã hội. Bởi không có cải cách nào đi đến đích nếu thiếu sự đồng thuận của Nhân dân.

Đồng thuận xã hội không phải là sự nhất trí hình thức, càng không phải là việc mọi người đều nói cùng một giọng. Đó là trạng thái khi đa số người dân hiểu đúng mục tiêu, chia sẻ khó khăn và sẵn sàng đồng hành với những quyết sách lớn vì lợi ích lâu dài. Khi ấy, khác biệt được tôn trọng, phản biện được lắng nghe, nhưng không bị lợi dụng để kích động chia rẽ hay làm lệch hướng phát triển.

Thực tiễn chứng minh, nhiều chủ trương lớn chỉ có thể triển khai hiệu quả khi nhận được sự đồng thuận rộng rãi. Việc sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành chính hay chuyển đổi số trong quản lý nhà nước đều tác động trực tiếp đến thói quen, lợi ích của nhiều nhóm xã hội. Nếu chỉ nhìn vào những xáo trộn cục bộ để quy kết “mất ổn định”, thì sẽ bỏ qua một sự thật quan trọng: chính sự đồng thuận đã giúp các cải cách này không gây đứt gãy xã hội, mà từng bước đi vào cuộc sống.

Ở nhiều địa phương, khi người dân hiểu rõ mục tiêu lâu dài của việc tinh giản bộ máy, tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả quản lý, họ sẵn sàng chia sẻ những khó khăn trước mắt. Trong cải cách thủ tục hành chính, khi người dân thấy rõ việc số hóa giúp giảm phiền hà, minh bạch quy trình, họ chủ động thích ứng với cách làm mới. Đó chính là biểu hiện sinh động của đồng thuận xã hội – một lực đẩy âm thầm nhưng bền bỉ.

Ngược lại, các thế lực thù địch thường tìm mọi cách phá vỡ sự đồng thuận ấy. Chúng khoét sâu vào những vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, phóng đại hạn chế, thổi bùng cảm xúc tiêu cực, từ đó tạo cảm giác đối lập giữa người dân với chính quyền. Mục tiêu cuối cùng không phải là cải thiện chính sách, mà là làm suy giảm niềm tin, làm xã hội phân tâm và chia rẽ. Nhận diện rõ thủ đoạn này là điều kiện để giữ vững đồng thuận trong bối cảnh thông tin nhiễu loạn.

Điều quan trọng là đồng thuận xã hội không thể duy trì bằng mệnh lệnh hay tuyên truyền một chiều. Nó chỉ bền vững khi được nuôi dưỡng bằng minh bạch thông tin, lắng nghe phản hồi, sửa sai kịp thời và đặt lợi ích của người dân ở vị trí trung tâm. Khi người dân thấy tiếng nói của mình được tôn trọng, thấy chính sách được điều chỉnh theo thực tiễn, niềm tin sẽ được củng cố một cách tự nhiên.

Trong bối cảnh đất nước đang chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thuận xã hội chính là nguồn “vốn mềm” đặc biệt quan trọng. Nó giúp giảm chi phí xã hội của cải cách, tăng hiệu quả thực thi chính sách và tạo nền tảng ổn định cho phát triển dài hạn. Khi niềm tin được củng cố và đồng thuận được lan tỏa, mỗi quyết sách đúng đắn sẽ không chỉ là mệnh lệnh hành chính, mà trở thành hành động chung của cả xã hội.

Chính lúc đó, đồng thuận không còn là khái niệm trừu tượng, mà trở thành lực đẩy phát triển mạnh mẽ nhất, giúp đất nước vượt qua thách thức, nắm bắt vận hội và tiến bước vững chắc trong giai đoạn mới.

Thời điểm của trách nhiệm và hành động

Các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Ảnh: Thùy Linh
Các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Ảnh: Thùy Linh

Đại hội XIV không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng, mà là mốc chuyển giao tư duy phát triển trong bối cảnh mới. Giữ vững niềm tin là điều kiện cần, nhưng biến niềm tin thành hành động cụ thể mới là điều kiện đủ để đất nước bứt phá.

Lịch sử cho thấy, mỗi vận hội lớn của đất nước đều gắn liền với những thời khắc thử thách bản lĩnh. Khi cánh cửa phát triển mở ra, câu hỏi không còn là “có nên thay đổi hay không”, mà là ai sẽ hành động, hành động như thế nào và với tinh thần trách nhiệm ra sao. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đứng trước yêu cầu bứt phá để bước vào giai đoạn phát triển mới, trách nhiệm ấy không chỉ đặt lên vai Đảng và Nhà nước, mà lan tỏa tới từng cấp, từng ngành, từng cán bộ và mỗi người dân.

Trách nhiệm trước hết là dám nhìn thẳng vào thực tiễn, không né tránh hạn chế, không che giấu khuyết điểm, nhưng cũng không để những khó khăn bị lợi dụng thành cái cớ cho hoài nghi, phủ định. Một Đảng cầm quyền trưởng thành là Đảng biết tự soi, tự sửa và kiên quyết hành động để làm tốt hơn, hiệu quả hơn. Chính sự thẳng thắn đó tạo nên niềm tin – thứ vốn quý nhất trong mọi cuộc cải cách.

Nhưng trách nhiệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Hành động ở đây không phải những khẩu hiệu lớn, mà là những thay đổi nhìn thấy được trong đời sống hằng ngày: thủ tục hành chính gọn hơn, dịch vụ công minh bạch hơn, giáo dục và y tế tiếp cận công bằng hơn, an sinh xã hội được bảo đảm thực chất hơn. Khi người dân cảm nhận được sự chuyển động ấy, niềm tin không cần phải kêu gọi, mà tự khắc được bồi đắp.

Thời điểm này cũng đòi hỏi một tinh thần tỉnh táo trước những luồng thông tin trái chiều. Phản biện là cần thiết, nhưng xuyên tạc phải được nhận diện và phản bác; góp ý để xây dựng khác hoàn toàn với việc gieo rắc hoài nghi nhằm làm suy yếu niềm tin xã hội. Trách nhiệm công dân trong kỷ nguyên số không chỉ là quyền lên tiếng, mà còn là trách nhiệm phân biệt đúng – sai, xây dựng – phá hoại.

Đây không chỉ là thời điểm của lựa chọn, mà là thời điểm của trách nhiệm và hành động – để mỗi quyết sách đúng được thực hiện đến nơi đến chốn, mỗi niềm tin được trao gửi đều được đáp lại bằng kết quả cụ thể, và để khát vọng phát triển của đất nước không dừng lại ở lời nói, mà được hiện thực hóa trong từng bước đi vững chắc của dân tộc.

Khi trách nhiệm được thực thi bằng hành động cụ thể, và hành động được đặt trên nền tảng đồng thuận xã hội, đất nước sẽ có đủ lực để đi xa hơn. Niềm tin khi ấy không chỉ là cảm xúc, mà trở thành sức mạnh nội sinh, giúp Việt Nam vượt qua thách thức, hóa giải khó khăn và tận dụng trọn vẹn vận hội đang mở ra. Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh rằng, sức mạnh của Đảng và của dân tộc Việt Nam trước hết nằm ở sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, biến niềm tin của Nhân dân thành động lực phát triển đất nước.

Bài 2: Phát triển kinh tế gắn với ổn định xã hội- Nền tảng của niềm tin

Bài 1: Giữ vững niềm tin trước thềm Đại hội XIV: Nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: