Việc nhiều địa phương lên kế hoạch xây tượng đài và quảng trường với kinh phí đến hàng ngàn tỉ đồng, một lần nữa đặt ra câu hỏi: Vì sao phong trào xây tượng đài ở Việt Nam lại nở rộ như hiện nay?
Việc nhiều địa phương lên kế hoạch xây tượng đài và quảng trường với kinh phí đến hàng ngàn tỉ đồng, một lần nữa đặt ra câu hỏi: Vì sao phong trào xây tượng đài ở Việt Nam lại nở rộ như hiện nay?
Và nên tìm ra những giải pháp hữu hiệu nào cho thực trạng này? Trao đổi với Tuổi Trẻ, KTS, hoạ sĩ Lý Trực Dũng - Giám đốc công ty Buffalo Architects, cho rằng, Việt Nam vốn không có truyền thống xây dựng tượng đài.
Họa sĩ Lý Trực Dũng - Ảnh: V.V.TUÂN
Ông Dũng phân tích: Khi nói về tượng đài, cần phải hiểu khái niệm tượng đài là gì? Trên thế giới thường dùng khái niệm thông dụng là monument (đài kỷ niệm). Nhưng các đài kỷ niệm trên thế giới rất khác với Việt Nam, bởi nó không cần có một cái tượng và một cái đài to như lâu nay người Việt Nam vẫn quan niệm.
Hơn nữa, đứng về mặt chuyên môn thì cần phải nói rõ, Việt Nam không có lịch sử hay truyền thống xây dựng tượng đài. Nước ta không hề có các tượng lớn ngoài trời, kể cả tượng tôn giáo như ở Trung Quốc, Ấn Độ, Afghanistan...
Trước năm 1930, ở Việt Nam không ai nói đến tượng đài. Chỉ sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta mới bắt đầu học và bắt đầu xây dựng tượng đài, theo cách của Liên Xô, Trung Quốc.
Cần biết các tượng đài ở Liên Xô, Trung Quốc vốn chủ yếu phục vụ mục đích tuyên truyền. Trong khi bản chất của tượng đài không phải để tuyên truyền, đây là một vấn đề học thuật phải được nghiên cứu, bàn luận nghiêm túc.
Monument đã có lịch sử hàng ngàn năm, nó không phải để tuyên truyền mà để tôn vinh mọt vẻ đẹp nào đó, một chiến thắng nào đó hoặc một cá nhân nào đó.
Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ phải sửa chữa lại vì bị hư hỏng nặng sau khi khánh thành một thời gian ngắn - Ảnh: Lê Kiên
* Vậy việc xây tượng đài nhiều ở VN bắt đầu từ khi nào, thưa ông?
- Chỉ hơn 10 năm trở lại đây, ở VN bắt đầu có phong trào ganh đua xây dựng tượng đài. Nhiều địa phương hiện nay đều đang rất cố để đua nhau xây tượng đài, càng hoành tráng, to nhất, oai nhất thì càng tốt.
Họ thắc mắc vì sao nơi khác xây được tượng to, hoành tráng thế? Vì sao địa phương mình lại không thể xây được cái tượng đài to hơn, hoành tráng hơn. Thậm chí không chỉ các tỉnh thành, mà cả các quận, huyện, xã... cũng đua nhau làm tượng chủ yếu bằng tiền ngân sách nhà nước.
Số tượng đài đó được xây dựng để làm gì? Tại sao cần phải xây dựng tượng đài nhiều như thế? Các địa phương và những người cổ vũ, ủng hộ xây dựng thật nhiều tượng đài đều cố bám vào các giá trị tưởng niệm đơn thuần về các nhân vật và sự kiện lịch sử...
Thực chất việc đua nhau xây tượng đài hiện nay là thể hiện tính sĩ diện của các quan chức địa phương.
* Trên thế giới, còn nước nào có “phong trào” xây tượng đài như VN hiện nay không?
- Phong trào xây tượng đài ở VN hiện nay như đang đi trên một con đường riêng biệt, không giống quốc gia nào trên thế giới. Hiện không có một quốc gia nào trên thế giới có một số lượng tượng đài nhiều được xây dựng bằng tiền ngân sách như VN.
Cũng có một số nhân vật đã được dựng tượng đài ở một số nước để tôn vinh công lao của họ đối với đất nước họ như tượng đài George Washington ở Mỹ được xây từ năm 1848 - 1884, tượng đài Bismarck đầu tiên ở Đức năm 1868.
Nhưng những tượng đài này không phải do chính phủ bỏ tiền ra xây, mà do những người yêu mến hai nhân vật này tự quyên góp tiền để xây.
Khi tôi trao đổi vấn đề xây dựng tượng đài bằng tiền ngân sách ở VN với các đồng nghiệp nước ngoài thì họ đều rất ngạc nhiên, không hiểu vì sao VN đang còn nhiều khó khăn như thế mà lại dùng tiền ngân sách xây tượng đài...
* Không ít người vẫn quan niệm xây dựng tượng đài to lớn, hoành tráng mới xứng với tầm vóc của các nhân vật, sự kiện lịch sử?
- Về giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, mỹ thuật và cả tâm linh thì có những tượng rất nhỏ nhưng giá trị gấp nhiều lần những tượng hoành tráng, to lớn, vô hồn. Thật sai lầm khi cứ nghĩ làm tượng đài là phải to, phải hoành tráng...
Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21 nhưng khi nhìn hệ thống tượng đài VN, tôi cứ ngỡ mình đang sống ở thế kỷ thứ 19 hay đầu thế kỷ 20.
Về hình thức, cả ngàn tượng đài đều na ná giống nhau: sáo mòn, rập khuôn, cũ rích, nhàm chán, đơn điệu...
Do yếu về chuyên môn nên có tượng đài càng to, càng cao càng lộ sự yếu kém, non nớt về tay nghề của tác giả tượng đài đó. Chất lượng xây dựng tượng đài hiện nay cũng là cả một vấn đề. Chúng ta đều biết vụ rút ruột khi xây tượng đài Điện Biên Phủ...
Còn mới đây, một tượng lớn ở Quảng Ninh bị sét đánh vỡ lộ ra chất lượng quá tồi. Nó thể hiện sự tùy tiện, yếu kém của cơ quan hữu quan: quy hoạch, thiết kế, xây dựng, giám sát, chủ đầu tư...
Nghịch lý hiện nay, theo tôi, là ở VN chỉ có khoảng chục nhà điêu khắc tượng đài có tay nghề vững, nghiêm túc, trong khi lại có cả nghìn tượng đài.
Có đúng “tượng đài sẽ là động lực để tạo nên sự phát triển” không? Thực tế nhiều tượng đài của chúng ta hiện không có tác động tích cực như mong muốn.
Nó không thu hút được sự quan tâm của người dân. Thậm chí gây tác động xấu về thẩm mỹ và chất lượng yếu kém...Tượng cũng có đời sống riêng của nó. Đáng lẽ tượng đài là điểm nhấn trong quy hoạch quảng trường, điểm công cộng... thì thực tế ở VN ta nhiều nơi lại làm ngược lại.
* Như vậy theo ông, cần có những cách thức hay giải pháp nào khắc phục tình trạng này?
- Việc quy hoạch tượng đài cần có sự tham gia của Hội Kiến trúc VN, Hội Mỹ thuật VN, Hội Sử học, Hội Quy hoạch VN và tổ chức xã hội khác...
Quốc hội cần phải có ý kiến về quy hoạch xây dựng tượng đài và yêu cầu Bộ VH-TT&DL phải thống kê xem hiện tại VN có tất cả bao nhiêu tượng đài và tổng số tiền đã đầu tư xây dựng nó.
Cần có cơ quan hữu quan khách quan kiểm tra đơn giá xây dựng tượng đài và giám sát thi công tượng đài. Cũng cần chấn chỉnh các hội đồng xét duyệt tượng đài quá yếu kém về năng lực chuyên môn...
Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân - Ảnh: Hoài Linh
Nên tạm dừng xây tượng đàiLà người yêu nghệ thuật, tôi thấy trong số khoảng 400 tượng đài mà nước ta đã làm chỉ có vài cái tốt, vài cái tạm được, còn lại đều xấu. Có nhiều cách thức khác để tuyên truyền, tôn vinh tưởng niệm ghi công, tri ân hiệu quả hơn thứ ta đang làm.
Nếu là nhà kinh tế, tôi nói việc xây tượng đài to lớn và nhiều như thế là quá lãng phí, chi tiêu như thế là vô trách nhiệm. Người dân mỗi địa phương có tượng đài khó đồng tình khi chi tiêu như vậy và các sản phẩm này không làm đẹp đô thị, cảnh quan, môi trường sinh hoạt đô thị mà ngược lại.
Vào Internet hay đi du lịch các nước ta sẽ thấy hiếm nước nào có nhiều tượng đài hoành tráng và nhiều như ở ta.
Lịch sử nghệ thuật thế giới chỉ ghi nhận không nhiều các tượng đài ghi công tưởng niệm, ca ngợi và thường quy mô nhỏ hoặc trung bình nhưng rất tinh tế đặc sắc, mang đậm phong cách một trường phái hay cá nhân một thiên tài nghệ thuật nào đó.
Gần đây nhất, ta lại rập theo một cách vụng về “phong trào nghệ thuật hoành tráng” Xô viết nửa cuối thế kỷ 20. Phong trào này đã tắt, hiện nước Nga không còn chi ngân sách làm tượng đài nữa.
Song nghệ thuật tượng đài Xô viết có phong cách riêng, có các bậc thầy thực thụ và để lại nhiều tác phẩm đẹp, thí dụ tượng Công nông của Mukhina trở thành biểu tượng của Nhà nước Xô viết, hay nhóm tượng Mẹ Tổ quốc ở Volgagrad...
Hay ở nhiều nơi trên thế giới đều có tượng đẹp như ở Washington DC có mấy tượng các tổng thống khai quốc của Mỹ khá đẹp. Hai pho tượng công cộng nổi tiếng ở Rome là tượng hoàng đế Aurel và tượng David (biểu tượng toàn cầu về vẻ đẹp đàn ông).
Ở Paris tôi nhớ nhất tượng Balzac của Rodin, còn ở Đan Mạch là tượng “Nàng tiên cá”. Ở Brussels là tượng chú bé con đứng “tè” ngộ nghĩnh đã được phiên bản khắp toàn cầu...
Hơn 10 năm trước tại hội nghị khoa học về tượng ngoài trời do Viện Nghiên cứu mỹ thuật tổ chức, tôi đã đề nghị cần dừng việc làm tượng đài đến năm 2025 - 2030.
Cha ông ta xưa và chúng ta ngày nay có nhiều cách để ghi công, tôn vinh, tưởng niệm chứ không chỉ có mỗi cách là làm tượng hoành tráng tốn kém, xấu xí như hiện nay.
Nếu tìm ra các hình thức mỹ thuật khác để hoàn thành nhiệm vụ chính trị và văn hóa thì các nhà điêu khắc sẽ không mất hợp đồng, mà sẽ có nhiều việc làm hợp với tham vọng mong muốn nghệ thuật của mình hơn.
Trong lúc đó ta cần điều chỉnh các dự án đã khởi động theo hướng vừa và nhỏ, cận dân tình và cận nghệ thuật hết mức có thể.
Phải nâng hiểu biết và trách nhiệm văn hóa cho cán bộ cấp trung và thấp. Cần gửi nghệ sĩ đi học về mỹ thuật và công nghệ làm nghệ thuật công cộng. Phải có quy định về kinh tế tài chính đối với các công trình nghệ thuật công cộng... Tóm lại ta phải tìm ra các cách khác làm tuyên truyền bằng nghệ thuật.
(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.
(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.
(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.
(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.
(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.
(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ.
(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.
(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.
(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.
(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.
(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.
(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.
(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.
(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.
Sau 18 năm mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội đã hình thành một không gian phát triển rộng lớn, khẳng định vị thế trung tâm đầu não chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa của đất nước.
(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.
(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.
(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?