Giáo dục Việt Nam: Đại phẫu hay đập đi xây lại?

(NB&CL) Nền giáo dục Việt Nam hôm nay đạt được nhiều những con số đáng tự hào: Lượng học sinh đến trường; số sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ, trường chuẩn, thư viện chuẩn; số huy chương Olympic quốc tế… Thế rồi, tất cả đã, đang và có thể sẽ chỉ là những con số mang ra cho… phấn khởi, trước ngồn ngộn ngổn ngang, bất cập của cả nền giáo dục.

1. Dù đã đạt được ít nhiều thành tích, nhưng chương trình, cách dạy và học của chúng ta chẳng thấy sự “đổi mới căn bản”, vẫn rõ nét là học để… đi thi. Nhận định của GS.TS Vũ Minh Giang – ĐHQG Hà Nội năm nào vẫn nguyên tính thời sự: Chúng ta đã dừng quá lâu ở một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn.

Và vì học để thi, các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học (thậm chí cả mầm non) đều dày đặc kiến thức, đè nặng lên đôi vai, đôi mắt và não bộ người dạy, người học.

Kiểu học tập nhồi nhét, thi cử đặt nặng “bạn có biết” ấy đã đẩy cả giáo viên, học sinh và phụ huynh vào thế phải sống chung với học vẹt, học tủ (thậm chí thờ ơ với dối trá). Phương pháp dạy và học từ đó thành áp đặt, làm thui chột óc sáng tạo và hứng thú nghiên cứu, học tập, khiến việc học của trẻ nhỏ không phải niềm vui, mà là ác mộng.

Trẻ nhỏ bị lấy đi tuổi thơ, sức khỏe, ảnh hưởng đến khả năng, thái độ làm việc về sau, được mang ra lý giải vì sao năng suất lao động của người Việt “đội sổ” trong khu vực. Thêm nữa, kiểu học và thi trên còn khiến các “quái thai” lò luyện núc ních người, lớp học thêm chui nhủi không thể xóa bỏ. Báo chí giờ đi “tìm diệt” người thầy, cảnh tượng quá chua xót ở một đất nước giàu truyền thống tôn sư trọng đạo.

Đáng lo ngại hơn, theo GS.TS Vũ Minh Giang, cả người dạy, người học không còn đủ thời gian, sự quan tâm cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết, để nuôi dưỡng tâm hồn.

Xót đau hơn, khi cái căn bản của giáo dục (là học cách tự học, học làm người) bị lép vế so với thái độ học thực dụng (vị bằng cấp), khiến đất nước hôm nay dù lắm tiến sĩ, giáo sư, nhưng thưa vắng dần một đội ngũ với tri thức và nhân cách đáng kính, có năng lực dẫn dắt xã hội.

Tranh minh họa. 

2. “Đổi mới” đã xa, thì “toàn diện” còn vời vợi. “Học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau, học để tự khẳng định mình” là mục đích của giáo dục UNESCO đưa ra gần nửa thế kỷ. Nhiều quốc gia đã áp dụng, nhưng Việt Nam vẫn lò dò “học để thi”, rất xa “học để biết”.

Ít ai nhớ rằng giáo dục là “sàn diễn” của hai “diễn viên” chính là Trò và Thầy, không phải cơ quan quản lý.

Việt Nam có đội ngũ cán bộ giảng dạy có chất và lượng ngày càng được nâng cao. Thế nhưng phương pháp giảng dạy của họ vẫn mang tính thuyết giảng, truyền dạy kiến thức thụ động, dạy 1 biết 1. Ngành giáo dục hô hào đặt trọng tâm lên người học, người dạy toàn diện cả kiến thức, cả làm người. Nhưng làm sao có thể dạy trẻ trở nên tự chủ, hợp tác, sáng tạo nếu bản thân thầy cô phải theo sách, giáo trình, không được trao quyền tự chủ, không được huấn luyện tốt để có khả năng quyết định những cách tổ chức hoạt động giúp tạo ra kỹ năng cho trẻ?

Người thầy đã bị động, người trò còn khổ nhọc hơn khi chương trình học quá nặng kiến thức, ít được lên tiếng, tương tác, thực hành. Chúng ta đang bắt trẻ phải thích ứng với chương trình mới do người lớn suy nghĩ và thiết lập. Triết lý dạy lấy trò làm trung tâm trở thành… trò cười.

Đã có những đề xuất: Tại sao cứ biến học sinh trung học thành “chuột bạch” mà không bắt đầu cải cách từ lứa mầm non, nơi trẻ bắt đầu tiếp xúc với trường lớp,  học sống với người khác?

Trẻ được đặt vào vị trí trung tâm từ nhỏ, tiếp tục là “trung tâm” ở các cấp học sau, quen và chủ động tương tác với người dạy. Thêm nữa, các môn học khi được phân bổ hợp lý (ví dụ 30% lý thuyết, 70% thực hành)… sẽ giúp đưa chương trình học gần thực tiễn, sát nhu cầu xã hội.

Tới nay, cấp học mầm non vẫn chỉ đang giống nơi “nuôi nhốt” hơn nơi học.

3. Bộ GD-ĐT thường hay nêu những hạn chế về cơ sở vật chất, đãi ngộ… Nhưng thực tế, ngành này được đầu tư trên dưới 20% tổng chi ngân sách quốc gia, kể cả trong khủng hoảng. Như vậy, lực cản lớn nhất của họ có phải là tiền, đội ngũ, hay chính là sự thiếu hụt niềm tin?

Thực tế, không nhiều người tin Bộ GD-ĐT là những “cậu bé biết tuốt”; không có tham nhũng trong các dự án xây dựng cơ bản, các đề án cải cách trăm tỷ, ngàn tỷ; tình trạng hành hạ trẻ em, bạo lực học đường, gian lận thi cử là cá biệt... Năng lực quản lý bị hoài nghi, niềm tin và sự đồng thuận mong manh, thì làm sao ngành giáo dục hội đủ nguồn lực để cải cách thành công?

Về vai trò của Bộ GD-ĐT, thay vì tập trung lo chuyện vĩ mô, thanh tra, giám sát… sao cho liêm chính, hiệu quả, Bộ lại biến mình thành Ban Giám hiệu của mọi trường học, khi xảy ra tiêu cực thì vá víu vội vã. Tiêu biểu và đau xót nhất là chuyện cải cách thi tốt nghiệp THPT “2 trong 1”.

GS Nguyễn Minh Thuyết từ năm 2015 đã dự báo: Gộp 2 kỳ thi sẽ tạo nên tình trạng “nửa dơi nửa chuột”. Và nay, khi Bộ GD-ĐT ra đề dễ, điểm 10 ngập tràn, phá sản mục tiêu phân hóa. Bộ rút kinh nghiệm và ra đề khó thì điểm 0 la liệt. Scandal sửa điểm là một u nhọt “bị lộ”.

Từ đó, đã có ý kiến cho rằng Bộ nên trao quyền tổ chức thi tốt nghiệp THPT cho địa phương, giao kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ cho nhà trường (tùy chọn thi tuyển hay xét tuyển). Khi các trường ĐH-CĐ được tự quyết, chuyện dạy và học ở cấp học dưới phải thay đổi, hướng vào thực tiễn, người học sẽ có cơ hội học để biết, để làm, để chung sống, để khẳng định mình.

Nguyên ĐBQH Lê Như Tiến đã thống thiết: Cần một cuộc đại phẫu. Nhưng có ý kiến phản bác rằng, với sự tan nát hiện nay, chỉ còn cách “đập đi xây lại”. Bộ GD-ĐT vẫn bình thản, vẫn nhắc về Nghị quyết 29–NQ/TW ngày 4/11/2013 của BCH Trung ương Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, bằng góc nhìn chưa thật thẳng, đúng và trúng thực tiễn khách quan.

Và để phát động một cuộc cách mạng thực sự, Bộ GD-ĐT có nên bắt đầu bằng việc “buông” các kỳ thi, toàn tâm toàn ý lo quản lý, xây dựng các kế hoạch mang tầm chiến lược để thay đổi nền giáo dục Việt toàn diện, từ gốc?

Kiên Giang

Xem thêm

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: