“Made in Vietnam” và bài toán khó về phát triển công nghiệp hỗ trợ

(NB&CL) Việt Nam không có quy định về ghi tiêu chí xuất xứ đối với hàng hóa nội địa, đã dẫn tới bao tình huống dở khóc dở cười, khiến Bộ Công Thương phải gấp rút “vá lỗi”. Và lúc này, câu chuyện “made in Vietnam” có lẽ được xác định là phải đi từ việc giải bài toán về công nghiệp hỗ trợ.

Theo lý thuyết, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào, chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính, là linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, bao bì,… Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thường được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam phải vượt thoát nhờ sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ.

Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam phải vượt thoát nhờ sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ.

1. Nhận thức rõ được vai trò của công nghiệp hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển, tiêu biểu nhất là Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ năm 2015. Đến nay, theo Bộ Công thương, Việt Nam có khoảng 1.800 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, trong đó có khoảng 300 doanh nghiệp nội địa, còn lại là các doanh nghiệp theo chuỗi.

Tuy vậy, hiện nay công nghiệp hỗ trợ trong nước chủ yếu tập trung vào lĩnh vực hạ nguồn; khâu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng tạo ra còn thấp, linh kiện phụ tùng phần lớn phụ thuộc vào nhập khẩu.

Theo nhận định của các chuyên gia, nguyên nhân chính dẫn đến nền công nghiệp hỗ trợ trong nước chậm phát triển là do khi các doanh nghiệp FDI hoạt động đầu tư thì các chuỗi cung ứng đi theo hình thành kênh cung cấp riêng. Thêm nữa, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận là trình độ của doanh nghiệp Việt còn hạn chế, lại có đến 97% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, rất khó khăn để phát triển.

Khác với khái niệm rộng đã nêu trên, công nghiệp hỗ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt, như ngành điện tử, ô tô.

Thống kê của Bộ Công Thương đã chỉ ra: Công nghiệp phụ trợ Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khối doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp nội địa chưa tham gia được nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Danh mục các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cần được đưa ra chi tiết, cụ thể để hỗ trợ phát triển.

Danh mục các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cần được đưa ra chi tiết, cụ thể để hỗ trợ phát triển.

2. Tại kỳ họp thứ 7, ĐBQH Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng) đã đề nghị chất vấn: “Chúng ta đã ký Hiệp định CPTPP và đã có hiệu lực, chương trình hành động của Chính phủ có nhiều, tuy nhiên xin Phó Thủ tướng cho biết 2 vấn đề về nguồn gốc xuất xứ sản phẩm và công nghiệp phụ trợ!”.

Trả lời chất vấn trên, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho biết, hiện nay, Việt Nam đã ký kết 13 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gồm FTA nội khối giữa 10 nước ASEAN; 6 FTA cùng ASEAN ký kết; 4 FTA song phương; và gần đây nhất là Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA của Việt Nam không cao. Một trong những nguyên nhân là do khả năng đáp ứng các yêu cầu liên quan đến vấn đề quy tắc xuất xứ. Trong CPTPP, các quy định về quy tắc xuất xứ được đánh giá là chặt chẽ, tuy nhiên cũng linh hoạt với quy tắc cộng gộp hay nguồn cung thiếu hụt.

Cũng theo Phó Thủ tướng, nguyên nhân chủ yếu khiến doanh nghiệp Việt khó đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA nói chung và các hiệp định như CPTPP nói riêng, là do ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển. “Trong thời gian tới, điều quan trọng là ta phải xác định các ngành công nghiệp phụ trợ cần tập trung vốn đầu tư, tận dụng lợi ích mà CPTPP mang lại để xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Bên cạnh đó, ta tiếp tục thực hiện chính sách thu hút các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, cam kết chuyển giao công nghệ…”, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nêu rõ.

Cùng với quyết tâm của Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cũng tìm đủ mọi cách để thúc đẩy công nghiệp phụ trợ phát triển.

Tại Đà Nẵng, chính quyền địa phương đã thực hiện hỗ trợ 2 tỷ đồng cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ là Công ty TNHH Huỳnh Đức, chuyên sản xuất các sản phẩm cơ khí chính xác để cung cấp cho các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước.

Hay TP. HCM, trong chiến lược thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, “đầu tàu” này đã tăng cường thu hút, ký kết hợp tác với những doanh nghiệp FDI có lộ trình hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng…

Để phát triển công nghiệp hỗ trợ, cần có chính sách ưu đãi lớn về tài chính cho doanh nghiệp.

Để phát triển công nghiệp hỗ trợ, cần có chính sách ưu đãi lớn về tài chính cho doanh nghiệp.

3. Sự phát triển của các ngành công nghiệp điện tử và công nghiệp ô tô Việt Nam bị coi là xây nhà từ nóc, lo “chạy tắt đón đầu” mà bỏ quên cả các công nghệ “lõi” lẫn công nghiệp hỗ trợ.

Đối với ngành công nghiệp ô tô, qua hơn 20 năm xây dựng, tỷ lệ nội địa hóa vẫn còn rất thấp. Theo Chuyên gia Kinh tế, TS Đinh Trọng Thịnh, mọi ngành sản xuất, chỉ có thể phát triển nếu có thị trường. Chúng ta muốn và đầu tư rất nhiều cho ngành sản xuất ô tô nhưng chúng ta lại thi hành nhiều chính sách để hạn chế sử dụng ô tô bằng cách tăng nhiều loại thuế phí, tăng thủ tục hành chính...

Bộ Công Thương ra sức xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô, với mục đích phát triển sản lượng sản xuất, thì ngược lại, Bộ GTVT lại xây dựng chiến lược giảm lượng xe lưu thông. Bộ Công Thương ra sức đầu tư cho sản xuất ô tô trong nước với đủ loại ưu đãi, nhưng Bộ Tài chính làm ngược lại…

Trong khi đó, việc theo đuổi một ngành siêu công nghiệp như ôtô trong khi tư duy công nghiệp của chúng ta còn yếu, lại đi sau các nước hàng chục, hàng trăm năm. “Tại sao chúng ta lại phải tự làm khó mình khi quyết tâm sánh vai cùng các cường quốc đó”, ông Thịnh đặt câu hỏi.

Lúc này, cần nhìn lại bài học Nhật Bản - cường quốc công nghiệp điện tử và ô tô toàn cầu. Đầu tiên, Nhật Bản đã  thực hiện các chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ từ rất sớm, từ năm 1949, làm nền tảng cho công nghiệp ô tô cực thịnh ngày nay.

Trong lĩnh vực điện tử, cuối năm 1957, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra “Luật về Biện pháp ngắn hạn khuyến khích ngành công nghiệp điện tử”, sau đó là một danh mục các sản phẩm được khuyến khích, chú trọng ưu tiên cho phát triển các linh kiện, nguyên liệu chủ yếu được dùng trong thiết bị điện tử.

Ở các kế hoạch của mình, Chính phủ Nhật Bản đưa ra danh mục các sản phẩm được ưu tiên hỗ trợ rất chi tiết và cụ thể, trong đó chú trọng đến công nghiệp hỗ trợ, từ nguyên liệu đầu vào, máy móc sản xuất, các linh kiện quan trọng cho đến chu trình gia công và các thiết bị kiểm tra đầu cuối. Các chính sách trên đã giúp ngành công nghiệp hỗ trợ Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, đưa Nhật Bản từ tàn lụi sau chiến tranh trở thành cường quốc công nghiệp.

Vậy nên, thay vì “ảo tưởng” thực hiện “sánh vai với các cường quốc”, thì Việt Nam, với xuất phát điểm thấp, cần phải tính toán hoặc là chọn làm “đại công trường”, hoặc là hỗ trợ các doanh nghiệp ô tô, điện tử đang có chỗ đứng trên thị trường vượt lên qua việc thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển.

Kiên Giang

Xem thêm

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: